Đăng bởi: Nguyễn Võ Lâm | 23.07.2016

Lan man hoa cúc


Mình yêu hai món canh nhất trần đời: canh khổ qua nhồi thịt và canh lá giang. Có lẽ bị hai món đó làm “mờ mắt” mà trước giờ chẳng nghĩ rằng mình cũng rất mê canh cúc. Nay bỗng phát hiện ra, khi thấy canh cúc trên mâm là thấy thòm thèm, ăn hết rồi lại muốn ăn thêm…

Ngày bé xíu vẫn thường tự vấn một cách ngây ngô rằng cây hoa cúc với cây cúc dùng nấu canh có gì khác nhau? Đã thế, mỗi đợt Tết về, nhà thường mua cặp chậu cúc, hoa vàng rực, lá mởn xanh, và trong những lần ấy đầu cũng không quên tự hỏi với một vẻ nuối tiếc: “Lá này sao không dùng lấy để ăn? Tết xong, bỏ phí!” Tâm hồn hồi ấy (và cả bây giờ!) cứ nhìn cây mà nghĩ đến… nồi canh!

Chợt liên tưởng dù chẳng mấy liên quan, chuyện hoa đào ngày tết với quả đào mình ăn, trồng để lấy hoa sẽ chăm theo cách này, trồng để lấy quả thì chăm theo cách khác. Và nay còn có chuyện rau cho mình ăn thì trồng thế này, rau cho họ ăn thì trồng thế khác, ra rả nhiều nơi.

Đã nhớ rồi thì nhớ lấn qua cả truyện “Đi qua hoa cúc” của Nguyễn Nhật Ánh, mà ngày xưa mình từng mê mẩn, nhưng chỉ nhớ đến đó thôi, nội dung phai nhạt hết. Trí nhớ nó vốn lẩn thẩn, lắm khi hời hợt, chỉ chạm được cái lớp “vỏ” ngoài cùng. Nhưng cũng được cái ai nợ thì nhớ dai… Chắc trong “ký ức lõi” (theo lối tưởng tượng kiểu “Inside out”) nó có riêng một khu siêu ngăn nắp và khoa học mang tên “Trung tâm lưu trữ nợ nần”.

Cải cúc mình mê ăn, hoa cúc mình mê ngắm. Trong ký ức hiện về, hình như đó là một chiều chừng năm cuối đại học, mấy anh em nhà trọ 1A Nguyễn Thị Ngĩa dạo ra phố đường (?), Đà Lạt. Rồi leo lên một quán cafe ở tít trên cao của đường này, uống trà, ngắm phố. Chỗ này hình như nổi tiếng về trà làm từ các loại hoa, mỗi người gọi một loại, mình gọi trà hoa cúc, rồi thấy… phí, nó không hấp dẫn như mường tượng.

Dù sao thì với hoa, chỉ thích khi nó khi còn nằm trong chậu, trên thân, cành. Hoa cúc cũng vậy, thích ngắm nó vào những ngày xuân, phố xá, nhà nhà, cúc vàng ngợp sắc. Tết, ai cũng mong có chậu đào, chậu mai trưng trong nhà, một số nhà ít điều kiện hơn hoặc không thích đào, mai thì một chậu cúc cũng đủ làm mùa xuân thêm hương thêm sắc. Lặng lẽ lắm nếu ngày Tết trong nhà thiếu vắng sắc hoa.

Wal
8-9.9.2015

Đăng bởi: Nguyễn Võ Lâm | 23.07.2016

Khắc chữ


khac-chu

Chiều, hơi muộn, mình xách chiếc ba lô đựng chỗ bút hôm rồi mua đi khắc chữ ngay nhà sách Fahasa Sài Gòn, trên đường Lê Lợi.

May mắn là chú ấy vẫn còn đó và mới bắt đầu khắc cho vị khách nữ tưởng chừng là cuối cùng kia. Mình ngồi xuống và loay hoay ngồi viết danh sách tên thì em ngồi bên bắt chuyện, “Hình như anh là anh Lâm?”, mình ngước lên nhìn, gương mặt ấy không gợi nhớ điều gì cả. Nhưng nếu nhận ra nhau ở giữa Sài Gòn thì mình cũng “nhận ra” ngay: “Hình như em có đến nghe các chương trình nhạc cổ điển của bên Nhóm Saigon Classical?”. Cũng đơn giản như hồi học trên Đà Lạt, thi thoảng gặp ai đó trên đường cười chào là cứ quy vào: chắc trong CLB Sinh viên Tình nguyện (chứ CLB Nhịp sống Giảng đường thì có bao nhiêu thành viên đều biết cả).

Em ấy mới bảo là có đăng ký với mình làm tình nguyện viên hỗ trợ dịch thuật, và đang hỗ trợ cho Huệ dịch bài đăng fanpage. Mình ngỡ ra. Trong chỗ bạn chung, thì em ấy biết Huệ, và biết cả Nam Phương, tính ra trái đất này “tròn” quá. Và cũng nhờ Facebook mà nhận ra những “điểm chung” này, nhưng nó cũng làm cho cuộc sống thêm “ảo” hơn trên mạng, để rồi gặp ngoài đời, bỡ ngỡ như hôm nay.

Em ấy bảo: Anh may mắn đó, nhờ em chú Thắng (khắc chữ) mới ở lại đến giờ, chứ không chú ấy về tự lúc nào rồi.

Bạn của chú đi ngang qua – hình như cũng làm nghề tương tự, nương vào một góc nhà, hàng quán để mưu sinh – rồi dừng lại huyên thuyên chuyện trò, thấy bọn trẻ đang ngồi chờ khắc cho xong, chú ấy mới “PR” chú Thắng một cách giản dị: Chú ấy ngồi ở góc này hơn 30 năm rồi, (chú Thắng thêm vào: từ năm 1983), từ cái ngày cái cây trước mặt đây còn nhỏ xíu, cao ngang đầu (giờ nó khẳng khiu cao tít tắp, gốc cây phải hai người ôm mới xuể), ngày trước gió mưa, chú ấy phải lấy cây trụ, cột chống để nâng đỡ nó. Chú Thắng mới bảo thêm: Nó cũng sắp bị chặt rồi, để làm dự án Metro, còn mấy cây nhỏ bên cạnh thì… không bị chặt.

Khắc xong, mình và em Thùy gửi tiền. Chú Thắng có duy nhất một câu trả lời khi hỏi giá: Lần trước con khắc ở đây giá như thế nào, thì lần này như vậy, dù khách cũ hay mới. Em Thùy làm cách đây chừng mấy bước chân, nên chú bảo hôm nào ghé qua đây uống cà phê lề đường với chú, không như ông này chỉ uống cà phê tiệm… Rồi mấy chú cháu cùng cười, và tạm biệt.

Chiều vẫn êm trôi…

Wal
23.7.2016

Đăng bởi: Nguyễn Võ Lâm | 11.07.2016

Nho


hoa-ngu-sac

Nhắc đến quả nho, ắt hẳn ai cũng sẽ liên tưởng ngay đến loại nho quen thuộc, quả vỏ tím, vỏ xanh, chua chua, ngọt ngọt, thường ngày vẫn hay ăn. Nhưng không, quả đang được nhắc đến ở đây lại là loại nho mà trẻ con phố núi thuở bé vẫn hay gọi (có lẽ giờ vẫn còn chăng?). Kỳ thực quả này có quá nhiều tên để gọi, ở Bình Định quê tôi, gọi nó với cái tên ổi tàu (giờ mới biết), đâu đó (miền Trung?) gọi là ổi thơm, nho thơm, hay cái tên đẹp hơn: hoa ngũ sắc. Miền Nam không hiểu sao gọi chúng bằng cái tên nghe có vẻ nặng mùi: cứt lợn, mà với cái tên này thì đúng thật là mãi sau này khi vào Đà Lạt mới được nghe.

Thuở bé, phố núi loài hoa này rất nhiều, mọc hoang mọc dại bên mương, bên đường, trong những cánh đồng hoang đầy cây bụi cỏ, bên trên những công trình hoang phế của ngày tháng cũ… Nó cùng bao loài cây hoang dại khác, trỗi lên, sừng sững, khi loài người bỏ đi, chúng lặng thầm mọc lên, ngự trị.

Cũng có đôi nơi lấy chúng làm bờ rào rồi chăm chút cho nó thêm đẹp. Nếu mọc dại ven đường thì cơ hội sống sót vẫn cao, vì dù sao thì giữa những loài cỏ dại, nho vẫn có ích hơn, ít ra là cho lũ trẻ phố núi.

Ngày đó, cũng như bao đứa trẻ nghèo khác, mỗi khi vào mùa, nho mang đến những thú vui mà lũ trẻ khó bỏ qua. Chúng ngắt lấy từng bông hoa nhỏ, đưa lên miệng hút chút xíu mật bên trong thay cho những chú ong. Xong, đôi khi chúng lấy chỉ, kim xâu lại những bông hoa nhỏ ấy thành vòng đeo cổ, đeo tay, làm điệu. Đến mùa nho chín, lũ trẽ bắt đầu “thu hoạch”, chúng đi lựa từng chùm nho, nhặt lấy quả nào thâm chín để rồi cho ngay vào bụng, ấy mà khoan, chúng cũng phải phủi phủi bụi & phần cánh cuống còn bám lại trên quả mới đánh chén. Quả sống thì để dành, chờ ngày chín rồi hái nốt. Những quả nho xanh cỡ lớn đôi khi được chọn ra làm “đạn” cho những chiếc ống thụt sử dụng trong những “trận chiến”, dù sức công phá thua xa hạt cò-ke nhưng nó là thứ dễ tìm hơn cả, và an toàn.

Lá nho rõ nặng mùi, nhưng tác dụng cầm máu tốt, cứ mỗi lần bị đứt tay chảy máu, hoặc té trầy gối thì việc đầu tiên là tìm lá nho, nhai nát rồi đắp lên.

Về chủ đề này, Võ Phiến có nguyên một bài dài khi tình cờ gặp loài hoa ấy ở xứ người, chỉ đơn giản vậy thôi mà thúc ông chuyển hẳn nhà từ Trung Bắc đến tận Tây Nam nước Mỹ, có lẽ vì ông “nặng tình” với nó, mà chính xác hơn như Võ Phiến nói: “Có thể bảo về một phương diện nào đó tôi tự đồng hóa với ổi tàu. Nó là tôi.”

Đôi lúc tự hỏi, không biết tôi mê văn Võ Phiến ở những điểm nào mà “cuồng” đến vậy. Trong các điểm nếu có thể ngồi liệt kê ra ngay thì đó là việc ông kể lại những ký ức về quê hương làm tôi đồng cảm, chí ít là người đồng hương, và dù sinh ra và lớn lên ở Kon Tum đi chăng nữa thì nơi này vẫn đầy những người Bình Định đến an cư lạc nghiệp để rồi mang theo những nét sinh hoạt, văn hóa, ẩm thực… tương đồng, nên có khi ông nhắc đến một chuyện, dù xửa xưa hàng mấy chục năm trước, tưởng chừng chỉ còn trong dĩ vãng thì nó vẫn còn diễn ra trong thời kỳ tôi sinh ra và lớn lên, như chuyện về loài nho trên…

Wal

11.7.2016

Đăng bởi: Nguyễn Võ Lâm | 10.07.2016

Nhớ Trăng Huyền Xưa


Ngồi bên bờ kênh viết bài, nhạc bật đến bài này, Nhớ Trăng Huyền Xưa (Nguyễn Văn Quỳ) do Kim Tước trình bày cùng ban nhạc Tiếng Tơ Đồng. Nhìn lên trời tìm… mảnh trăng không thấy đâu nên… vớt vát bằng “mảnh” kênh.

Hôm qua đi biển mình bật nhạc xưa nghe, nhét lỗ tai bạn cho nghe ké thử, chỉ vài giây ẻm “ngộp” rút ra trả lại. Hà hà.

Bài này xưa giờ mình chưa thôi mê mẩn, và có lẽ sau này cũng vậy. Ai chịu nghe đi, mình… yêu ngay 🙂.

Bolero nào cũng đẹp và sang thế này thì mình yêu hết. Bài này được Tinh Hoa – Huế xuất bản năm 1951. Trước 1975 thì chỉ thấy bản thu của Kim Tước, sau 1975 thì chỉ thấy có Mai Hương.

Định tìm thông tin nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ trên khanhly.net/phoxua thì nhận ra diễn đàn đã không còn nữa, ngày trước mình có ý định lưu lại hết chỗ dữ liệu được tổng hợp khá khoa học đó, nhưng mới làm được một phần nhỏ xíu vì chưa có thời gian, đến nay thì đã muộn.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ có lẽ được biết đến nhiều nhất qua nhạc phẩm Dạ khúc, ngoài ra những tác phẩm khác như bóng chiều, chiều cô thôn, mây trôi, nhớ trăng huyền xưa đều rất tuyệt.


Dưới trăng huyền xưa,
Từng ánh lung linh chan hoà muôn gió biếc,
Tìm đến bên hoa gió trăng nhè nhẹ mơn mơn cánh yêu kiều.
Dưới trăng huyền xưa,
Hồn thắm chơi vơi trong tình trăng chan chứa,
Ngát say hương nồng lòng ai ngây ngất với trăng thu ngàn đoá hoa.

Nhưng chiều thu nay, tàn rồi bao ước mong,
Trăng sáng nơi đây nhưng không thắm cho lòng.
Nhưng chiều thu nay, tàn rồi bao ý thơ,
Dáng xưa đâu còn cho hương vương trong gió.

Nhớ trăng huyền xưa,
Lồng bóng hoa trăng rung từng bông cánh thắm,
Gió dâng ý tình hồn ai như mơ thấy tan trong trời thu.

Nghe thêm:
Mây trôi: http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/may-troi-nguyen-van-quy-vu-anh.SIn4tYCU5A.html

Wal
3.5.2016

Đăng bởi: Nguyễn Võ Lâm | 10.07.2016

Bánh xèo


banh-xeo

Mùa mưa về, lại thèm bánh xèo hơn cả.

Ở Sài Gòn, cũng từng thử ghé nhiều điểm để ăn, nhưng rồi đọng lại cũng chỉ có một điểm hay ghé tận bên Gò Vấp. Cách đây chừng hơn ba năm, khi đó mình còn ở bên này, hay rủ rê các bạn ra đồng diều thả diều, rồi sau đó là tiết mục bánh xèo miền Trung ngay góc ngã tư. Giờ thì xa rồi, nhưng thi thoảng thèm, vẫn ghé.

Bánh xèo có lẽ là món mà dường như loại rau sống nào cũng dùng chung được, chỉ có thực khách là kén chọn giữa hằng tá rau trước mặt. Mỗi nơi, lại sử dụng một vài loài rau khác biệt, có lẽ tùy vào loại rau vốn có của vùng đất ấy, và cả… sở thích hoặc thói quen chọn rau của chủ tiệm.

Bánh xèo trong trí nhớ chỉ còn lưu lại thuở còn học cấp II. Không rõ ngày ấy có việc gì (đi học thêm cũng nên?), có những ngày về trễ chừng 6g tối, lại ghé vào xóm cũ Hùng Vương, góc giao với Mạc Đĩnh Chi để ngồi bên hàng bánh xèo của một cụ già, với chừng 2.000Đ là có được một bữa no (chừng 7 cái bánh). Có những ngày trời mưa, vẫn cứ phải ghé ăn cho bằng được. Mình luôn làm hao dưa góp chua và nước mắm chấm, còn rau sống thì luôn sạch.

Nhà mình ngày đó cũng hay đổ bánh xèo, nhà có hai cái khuôn để đổ bánh, khi cần là lấy gạo đem ra ngoài để nhờ xay hộ, rồi mua thêm các nguyên liệu, nào thịt, nào tôm, nào rau, nào giá… về để chế biến. Bánh nhà làm thường khá mềm, với một nùi giá thịt bên trên rất là đầy đủ chất. Tiệm ven đường của bà mình hay ghé thì bánh giòn hơn nhưng vẫn giữ được độ mềm của nó.

Vào Sài Gòn thường chỉ thấy loại bánh xèo giòn, có khi chủ tiệm xào đi xào lại vài lần (đổ bánh trước, khi khách đến lấy ra làm nóng lại), đâm ra bánh thừa nhiều dầu mỡ, lại cứng đi, giá có chỗ không cho vào. Mình thì không mê bánh xèo ướt lắm, nhưng cũng không thích bánh xèo quá giòn. Ở Sài Gòn ăn riết bánh xèo giòn, rồi lại nhớ đến món bánh xèo ướt mềm nhà làm ngày trước, hay món bánh xèo vừa giòn vừa mềm của bà cụ bán ven đường. Có những nơi, nước chấm chỉ đơn thuần là nước mắm được pha lại cho vừa vị, giống cách làm ở nhà. Có những nơi, nước chấm dùng làm bằng tương đậu phộng cùng một số gia vị khác, làm món bánh thêm phần ngon hơn, dù bánh xèo chưa thực sự xuất sắc.

Hôm rồi ghé đồng diều, rồi ghé lại quán hay ăn. Ông anh người ngoài Bắc có vẻ không sành cuốn, tự cuốn đâu được vài ba cuốn rồi nhờ mấy chị, chị già ngồi kế bên mình cũng te te cuốn cho ông anh một cuốn nhưng bị rách, bèn chống chế do bánh rách. Rồi bị ông anh độp lại: Không biết cuốn mới để rách. Ổng nói có lý, mình thì cũng định thêm, rằng dù bánh có rách sẵn, nếu biết cầm cuốn bánh nữa thì có rách cũng chẳng hề chi.

Người ta hay bảo mùa mưa, ăn bánh xèo là số dzách. Mình thì có lẽ ngoài yếu tố hợp thời điểm ra, thì có lẽ kỷ niệm ngày cũ nó đeo sau để rồi tạo thành mốt nếp quen. Nghĩ cũng lạ, không chịu nhớ bánh xèo của nhà làm, mà chỉ nhớ bánh xèo hàng quán ấy vào những đêm mưa, cạnh ngọn đèn dầu, dưới lớp mái bạt tạm che đủ không để ướt người, bà ngồi đó đổ bánh xèo, từng chiếc nóng hôi hổi, ăn đến đâu vừa kịp làm đến đó, tiếng xèo xèo, đúng nghĩa, thân thương…

Wal
4.7.2016

Đăng bởi: Nguyễn Võ Lâm | 10.07.2016

Xem kịch


Giặt đồ, bật cái danh sách có 4 bài hát với 2 tác phẩm, bài nào cũng… mênh mang. Bài đầu thì hôm nọ bị anh nào đó ngà ngà say “rền rĩ”, đang ngồi cafe đón gió bên sông Dakbla thì bỗng “chạm” vào.

Bài thứ 2 là một nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, tải về từ đợt Tết. Đợt đó, ba anh em rủ nhau đi xem kịch Hoàng Thái Thanh, vở “Nửa đời ngơ ngác”, vở này được giới thiệu từ cả năm trước mà tận đến Tết này mới được xem.

Xem kịch là một thú không thể thiếu ở Sài Gòn, đặc biệt vào dịp Tết, kịch như một món “đặc sản”.

Thực tế mình mê đi xem kịch hơn là xem phim, dù thực tế chẳng mấy khi đi xem cả hai “món” này, và lại toàn đi xem thể loại kinh dị, hài. Chính kịch thì vở đầu tiên xem là “Dạ cổ hoài lang”, mãi đến dịp Tết mới được xem 2 vở tại sân khấu kịch Hoàng Thái Thanh: “Lan và Điệp” cùng “Nửa đời ngơ ngác”.

Vở nào cũng buồn, lại chọn dịp Tết mà xem. Hôm ấy em Hồng đủng đỉnh đến cứ đinh ninh sẽ được xem vở “Nửa đời hương phấn”, nào chẳng thấy “hương phấn” đâu, chỉ thấy “ngơ ngác”. Vở này một lần trước em ấy đang xem giữa chừng chịu không nổi, đành đỏ hoen mắt, ra về. Lần này cũng may là dịp Tết nên tâm trạng vui hơn, dù vậy cũng lấy đi nước mắt em ấy lúc nào không hay, đến khi vở kịch kết thúc, sáng đèn…

Vở “Nửa đời ngơ ngác” chọn “Chuyện đóa quỳnh hương” làm nhạc chính, từ 2 bản thu của Hồ Quỳnh Hương và Thái Hòa. Nhạc xuất hiện luôn đúng lúc và ám ảnh.

Vở “Nửa đời ngơ ngác” làm mình mến mộ nghệ sĩ Ái Như. Qua hai vở được xem, vở nào cô cũng diễn tròn vai và nhập vai.
Cũng mấy tháng rồi, không đi xem :)…

Wal
21-22.04.2016

Đăng bởi: Nguyễn Võ Lâm | 10.07.2016

Chiều yên bình tại New Bagan


Chiều ngày kế cuối ở Myanmar, khi mọi người (thuê chung 1 phòng cho 7 người trú tạm qua buổi chiều) đang nghỉ ngơi, tắm rửa, lướt web thì mình xách máy ra ngoài, định dạo bộ quanh đây, thì gặp em Hằng đang ngoài sảnh, rồi hai anh em cùng đi.

Nếu những ngày trước đi theo lịch trình thì đây là thời điểm thảnh thơi nhất không nằm trong lịch trình, chẳng có gì phải vội, chẳng quá đông người, chẳng ồn ào, sôi động.

Chiều, đón bằng cơn mưa lất phất, không quá lớn, rồi tan, bầu trời mây vẫn vương một màu xám nhạt. Rảo bộ qua những thôn xóm ven sông, cảnh yên bình khôn tả. Ở nơi đó gặp những nụ cười hồn hậu của cư dân bản địa đang ngồi trên những chiếc sạp tre ngoài ngõ, dưới những tán cây xanh rì rợp bóng, và đang ngắm nhìn những đứa trẻ đang mãi đùa chơi…

Đó là khoảng thời gian ngắn ngủi nhưng lại ghi nhớ nhất trong chuyến hành trình, thôi thúc mình, một mình, hoặc cùng lắm là hai, rồi sẽ ghé lại nơi đây…

Wal
04.7.2016

Đăng bởi: Nguyễn Võ Lâm | 10.07.2016

2016.06.25-26. Bagan, ngày 2 & Yangon


Bagan, ngày 2. 25.6

Nếu cần hỗ trợ gì, hãy liên hệ tiếp tân của khách sạn. Từ việc đặt đến thỏa thuận giảm giá đối với bên cho thuê xe, taxi, họ đều giải quyết giúp nhanh gọn. Điều mình cần là nắm trước về số km điểm đến để dễ bề thỏa thuận giá, hoặc nắm trước các mức giá trên mạng của những “tiền nhân” để lại. Nên chuyến thăm đến ngôi chùa trên núi Popa cách New Bagan hơn 50km cũng nắm được giá phần nào, và được đặt từ hôm trước đó.

Buổi sớm, 4g mọi người đã dậy chuẩn bị trả phòng và đi sớm từ 5g để đón bình minh. Đến nơi đã có vài du khác ngồi ngắm sẵn. Đến 7g hơn mới leo xuống, và tiếp tục hành trình.

Bữa sáng, bác tài dẫn đến một quán ăn Myanmar. Mới ngồi chưa kịp gọi họ đã mang ra la liệt đầy 2 bàn những đĩa thức ăn nhỏ, dĩ nhiên toàn món… lạ, tính ra cũng trên 20.

Đường đến chùa Popa mất 1g30 phút. Ngủ gần 2/3 chặng đến khi xe tạm dừng tại chợ để mua một ít ổi, 3 quả 2000kyat, ổi vừa nhạt vừa chát, làm mắc nghẹn khi ăn.

Chùa Popa nằm trên đỉnh núi cao, nhìn từ xa trông rất thi vị, nhưng khi lên thì khá lộn xộn và bẩn. Một phần do nhiều khỉ, môt phần do phải để dép từ phía bên dưới chân núi. Làm mình chợt liên tưởng đến núi Hương – chùa Hương, để vào đến động Hương Tích phải đổ mồ hôi đẫm ướt áo dù tiết trời lạnh run. Đường lên chùa Popa có lẽ chỉ bằng 1/3 (đường bộ đi lên đỉnh núi Hương khoảng 2000m tính từ bến thuyền) nên cũng chẳng thấm vào đâu khi leo núi này. Có điểm tương đồng nữa là dọc đường lên đỉnh núi là các sạp hàng hóa bày bán các mặt hàng lưu niệm, nên nó góp phần tạo nên cảnh xô bồ của chốn này.

Thoáng qua thì có thể nhận thấy việc donate ở đây có vẻ gì đó “bị” một số người khai thác triệt để. Từ trong sân bay, thay vì để cuộn giấy lau tay một nơi để mọi người tự cầm lấy, thì có một người tự đứng làm việc đó để được nhận tiền tip, hay việc khi đi lên trên núi Popa, có ít nhất là 10 người đứng/ngồi lau cầu thang (cho lượt lên), quét dọn, khi du khách đi ngang thì “please donate for cleaning”, sẽ không vấn đề gì nếu chỉ vài ba người, sẽ không vấn đề gì nếu du khách không thấy cảnh người lau cầu thang đứng chờ du khách đến rồi mới bắt đầu cầm khăn lau lau chùi chùi chiếu lệ, và theo lời Hậu Lê thì ở ngay khu vực gửi dép, có một tấm bảng ghi chú: không cho tiền bất cứ người lau sàn nào…

Tóm lại thì chùa Popa này không nhất thiết phải đến trong hành trình, theo như lời một người trước đây từng đi và chia sẻ lại.

Vòng ngược về, nhóm ăn trưa tại một nhà hàng chuyên bán các món Myanmar tại Old Bagan, lần nữa được chứng kiến cảnh bày biện la liệt các món ăn ra. Nhà hàng tính theo đầu người, cứ 4000kyat/người, thức ăn thoải mái. Mình không rõ lắm cách mà nhà hàng sẽ làm như thế nào với chỗ thức ăn chưa dùng hết. Nhưng nhìn qua thì có thể suy đoán chỗ thức ăn ấy một số món có thể sử dụng cho thực khách khác, các món ăn được bày biện tất cả đều có muỗng để ai cần thì dùng muỗng để trích ra, nhưng liệu có du khách không rõ ý, cứ thẳng tay dùng muỗng nĩa của mình thì sao?

Chiều về, cả nhóm thuê một phòng tại khách sạn để nghỉ ngơi, tắm rửa, mình làm một giấc, tắm táp rồi ra ngoài dạo bộ, chụp hình khu vực lân cận.

New Bagan, ngoài khu vực mới quy hoạch gồm đa phần các khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng… thì dọc sông ven đó là những dãy nhà dân, hơi xuề xòa, lụp xụp có phần nào đó giống cảnh miền quê ở Việt Nam. Đan xen những ngôi nhà gạch tương đối tươm tất là những ngôi nhà (sàn) vách bằng tre có mái lợp tôn, tường rào cũng bằng tre đan lại, ngoài sân, thường có một chiếc ghế dạng bằng tre hơi xuôi mình, hay một chiếc đi-văng cũng làm bằng tre, chân gỗ, gia đình ngồi vây quần bên nhau, chuyện trò, làm việc, cảnh sống mộc mạc, bình dị mà thân thương.

19g hơn, xe mới đến đón để đi về lại Yangon.

Gần 24g đêm, cả nhóm mới được ăn bữa tối tại trạm dừng chân, khi về lại xe mới biết là những hộp bánh được đặt phía bên trên khu vực để hành lý, có lẽ lúc đó thấy du khách đang say ngủ, không tiện đánh thức vì một hộp bánh bông lan.

Yangon, Ngày cuối, 26.6

5g sáng, Yangon lại tiếp tục đón bằng một cơn mưa dài, tầm tã, kế hoạch dạo phố vẫn thực hiện nhưng đến được khá ít điểm: quảng trường trung tâm thành phố, và chùa có tượng Phật nằm. Sau đó đoàn lên xe trở về lại sân bay, check in và chờ vài tiếng vì mưa gió ở Sài Gòn làm máy bay đáp trễ, cầm cự bữa trưa bằng miếng ăn được san sẻ: bánh bao, bánh xốp, hạt đậu nành… mãi đến 1g hơn mới được ăn trưa, bữa trưa do VNA bù đắp vì đến trễ.

Các bánh bèo nói với nhau: bánh bèo Bắc: em nhất định phải làm một tô phở và húp sạch sành sanh nước cho thỏa nỗi nhớ nhung món Việt; bánh bèo Trung: em phải làm một tô bún bò Huế… Không rõ rồi các bánh bèo ấy có thực hiện không, mình thì làm một tô vị Nam: bún Thái, no nê rồi về…

(Ảnh: Một gia đình người Myanmar đang sinh hoạt phía bên trước nhà tại New Bagan, phía sau hàng rào là nhà tắm).

Wal
25-26.6.2016

Đăng bởi: Nguyễn Võ Lâm | 10.07.2016

2016.06.24. Bagan, ngày đầu


Sớm, các anh taxi đón đầu bắt đầu màn chém chặt. Từ bến xe đến khách sạn ở New Bagan chỉ 10km, họ cầm bản đồ và thét 20km, chém 5000kyat/người. Cũng may kiểm tra được khoảng cách nên không bị mất oan quá nhiều tiền, dù biết trả 10000kyat cho tất cả vẫn còn hố. Tội nghiệp nhất một anh đi solo, không kịp ghép đoàn bị chém 7000kyat, có lẽ cũng phải đi.

Tới nơi được nhận trước 3 phòng. Mới biết các phòng ở khách sạn này 2 giường 1 phòng. Nếu biết vậy có thể đặt phòng tiết kiệm hơn, không phải đặt 4 phòng, tốn kém.

Nghỉ ngơi chặp, rồi thuê xe đạp điện tìm điểm ăn sáng tại Old Bagan. Dĩ nhiên, mình cầm máy ảnh nên được ưu tiên ngồi sau, để em Hằng làm lái chính.

Bagan quá rộng lớn, đền thờ và chùa rải rác khắp nơi, ngoài những trục đường chính, những con đường hẻm đất đỏ dọc hai bên đường đều hấp dẫn và cuốn hút kỳ lạ bởi vẻ đẹp hoang sơ, hoang dại, và bởi những đền đài vốn một thời là trung tâm tâm linh giờ chỉ còn là phế tích. Chỉ cung đường nhựa từ New Bagan đến Old Bagan cũng đã lôi cuốn du khách bởi nét yên bình và tuyệt đẹp.

Vì rộng lớn, nên nhóm chọn cung đường chính để đi trước. Nhóm tạm dừng chân bên đường uống nước mía, người dân không giỏi tiếng Anh, họ đem một tờ tiền 500kyat và một cái ly để giải thích. Lần lượt từng thành viên tung ngón tiếng Anh học mười mấy năm trời ra diễn giải để trả giá: 7 ly 3000kyat, nhưng chịu. Mình tung… ngôn ngữ cơ thể ra: quơ tay một vòng chỉ vào nhóm, chỉ vào cái ly, chỉ vào tờ tiền, giơ ngón tay số 3. Cô ấy mặt bừng sáng tỏ ý hiểu, bèn bắt tay vào làm. Các bạn bắt đầu tâng bốc mình lên mây, nào là uổng mấy chục năm đèn sách học tiếng Anh, nào là không cần phải đến trường học bài bản,… cho đến khi cô ấy mang 3 ly nước mía ra… rồi bắt đầu lôi từ mây vùi xuống hố thẳm sâu.

Tìm mãi chỗ ăn sáng rồi cũng thấy, tại một nhà hàng ở Old Bagan. Gọi vài món, và 7 dĩa cơm, rồi mọi người bắt đầu màn chia thức ăn sao cho đều. Cuối buổi tính tiền hình như hơn ba ngàn kyat, thủ quỹ Dung nhìn tờ 10000 thành… 1000kyat, lấy ra đếm ba mươi mấy tờ để trả, cả nhóm cũng không hiểu sao tiền… nhanh hết vậy, bèn gom thêm $ vào quỹ. Lát sau cậu nhóc ra lấy tiền, thấy đưa một cọc, bèn bóc ra ba tờ 10000kyat và mấy tờ tiền lẻ khác, nhóm mới tá hỏa ra. Mọi người dòm vào Dung thủ quỹ với ánh mắt truy xét: Không biết có lỡ gửi cho mấy ông taxi đồng này không?

Đến gần giữa trưa hành trình tham quan được tiếp tục, xe chạy xa đến khi dường như bắt đầu vượt qua khu nhiều đền đài, mới quay đầu lại và ghé vào những con đường đất đỏ khám phá sâu.

Những đền đài lớn ở đây hầu như đều khóa các lối leo lên trên cao sau quyết định mới đây hình như có hiệu lực từ đầu tháng 3 do quá nhiều du khách Tây không tuân thủ theo các quy định khi vào: không đồ ngắn, không mang giày. Vì thế không còn nhiều những góc chụp toàn cảnh.

Hơn một giờ chiều, thấm mệt, bèn trở về khách sạn nghỉ ngơi để chiều 4g hơn đi ngắm hoàng hôn buông.

Có lẽ vì sợ đông du khách nên khách sạn báo nên đi tầm 4g45 chiều. Nhưng thực tế ở đây mặt trời gần… 7g mới lặn. Chờ lâu quá nên các bạn lần lượt “rụng rơi” xuống dưới ngồi uống nước dừa chờ. Mình cũng không đợi được lâu vì xe quy định 7g trà bèn rời khỏi đỉnh tháp lúc mặt trời gần sụp xuống hết. Đường về ráng chiều đỏ thắm, cố dặn lòng nhưng vẫn tiếc ngẩn ngơ.

Tối đi ăn tại nhà hàng 7 Sisters cũng gần chỗ nghỉ, nằm trong những nhà hàng nên ghé khi đễn đây. Nhóm cũng gọi như lúc trưa, các phần cơm và các món riêng rồi cùng chia, các món khá ngon và dễ ăn nên món nào cũng sạch gọn. Trong vài món ở Myanmar ớt là thành phần chính chứ không hằn chỉ là gia vị, và những quả ớt này thường được chọn là loại ớt xanh, quả dài và vị cay có vẻ hơi giống giống ớt để ăn mỳ Quảng ở Đà Nẵng, tức không quá gắt cay. Ớt được cắt thành lát cho vào nấu cùng, đầy nhóc dĩa như rau cù quả; ớt được băm nhuyễn cho vào cùng nước sốt trong món cá chua ngọt (?), vị khá cay. Và không ít món ớt là gia vị được sử dụng nhiều.

Ớt trông có vẻ… thoải mái và dư giả trong các món ăn, nhưng nước đá lại là thứ xa xỉ ở Bagan. Đá họ phải đi mua ở chợ Bagan, khá xa, có lẽ vì vậy không có gì lạ nếu khách gọi không kỹ, có thể chỉ một ly đá được mang ra, có nhà hàng ly trà nóng 700kyat, nhưng nếu trà đá thì lên tới 1500kyat, tất cả đều có nguyên do trên, nhưng nếu khách gọi đá thêm, họ cũng hơi ngần ngại nhưng rồi vẫn chiều lòng thực khách. Và nếu chú ý tẹo, sẽ thấy khi đưa hóa đơn hay thối tiền, họ rất lịch sự: một tay nâng khủy tay, môt tay đưa hóa đơn/tiền cho khách.

Wal
24.6.2016

Đăng bởi: Nguyễn Võ Lâm | 10.07.2016

2016.06.23. Saigon – Yangon


..11g hơn, máy bay đáp Sân bay Quốc tế Yangon. Nơi này đón bằng một cơn mưa đủ ướt đường, làm nhiệt độ ngoài trời giảm nhẹ, rồi ngưng. Anh taxi bảo nhóm mình may, nếu đến sớm trước 1 tuần thì hứng trọn cả tuần với những cơn mưa.

Vừa bước xuống sân bay, tranh thủ vô WC, lúc đi ra có người đứng xé cuộn giấy đang cầm để đưa khách lau tay sau khi rửa. Không hiểu tại sao họ không để giấy vào một hộp để mọi người tự lấy và dùng khi cần.

Trong thành phố, dương như phương tiện giao thông chỉ gồm xe hơi, xe tải, xe lam gần giống kiểu của mình, xe đạp và xích lô. Xe gắn máy chỉ vùng ven, ngoại thành, và con số này không nhiều cho lắm.

Myanmar từng bị Anh đô hộ, nên về giao thông có sự ảnh hưởng, nhưng có vẻ hơi… “nửa mùa”? Các xe 4 bánh ở đây tay lái nằm phía phải, nhưng trớ trêu là đường vẫn đi theo lề bên phải thay vì bên trái như Singapore. Còn các xe bus thì tay lái phía bên trái. Trong thành phố người dân đi lại chủ yếu bằng ô tô, nên có thêm hình thức bán dạo tại các điểm đèn đỏ, vì mỗi lần dừng từ 2-5 phút tùy theo lưu lượng giao thông vào từng thời điểm. Người bán dạo bán đủ thứ, từ bánh trái, vòng hoa để treo trước xe cho thơm, nước, đến… bản đồ (có lẽ chỉ gần khu vực từ sân bay vào trung tâm thành phố).

Có 3 loại biển số xe ở đây: taxi màu xanh, du lịch màu đỏ, và xe riêng màu đen.

Điểm đầu riên là thăm chùa Shwedagon đúng như lịch trình, cách sân bay 14km. Kiến trúc tháp vòm với 4 cổng lên. Các nàng bánh bèo mặc váy ngắn nhanh chóng dùng khăn quàng cổ, thậm chí cả… mền để quấn qua gối, không sao, miễn được vào.

Nơi này có hai loài chim phổ biến và đông đảo: bồ câu và quạ. Trên trời, bên vườn, trong sản… chốn nào cũng văng vẳng tiếng quạ kêu.

Sau đi thăm chùa, cả đoàn tìm chỗ ăn trưa gần đó, rồi thuê tiếp taxi đến chùa Botataung cách chùa Shwedagon 5km. Một anh lái taxi đang dẫn đoàn khác đi ăn, nói đi qua đó chỉ 3000kyat. Trả giá mãi 5000kyat họ mới chịu đi.

Ở đây đa phần xe taxi 4 chỗ. Taxi 7 chỗ phải đặt trước hoặc liên hệ với hãng mới có. Vì thế nếu đi 7 người thì vừa đủ 1 chiếc xe taxi lớn. Với loại 4 chỗ thì 2 người phải ngồi bệt hoặc chồm hổm phía sau khu vực hành lý. Và dĩ nhiên nếu 8 người đi thì người còn lại chỉ có… nóc mà leo. Vì thế nhóm chốt hạ 7 người để tiện đi.

Đường chủ yếu xe hơi, vào gần giờ cao điểm chạy càng thêm chậm. 5km chạy nửa tiếng mới đến nơi. Nhiều tài xế lái taxi chạy ẩu và bát nháo khôn lường. Khi đến chùa Botataung, không muốn phải bỏ thêm $ để vào tham quan, nhóm bèn kéo nhau ra sông gần đó để chụp ảnh, rồi bắt xe taxi qua trạm xe buýt của Thành phố cách chừng 20km. Dĩ nhiên chỉ có thể bắt taxi 4 chỗ, 2 nam tiếp tục ngồi sau.

Xe chạy đường vòng rìa ngoài thành phố nên tránh được cảnh kẹt xe và đến khá sớm. Rảo bộ chùa gần đó một chút rồi vòng về, chờ chuyến xe đêm.

Không rõ hãng xe buýt khác như thế nào. JJ Express khá chu đáo. Có thức ăn nhẹ (bánh bông lan), có nước uống, khăn lạnh, xe 1 hàng 3 ghế dạng hơi nằm, có tivi nhỏ chiếu vài kênh giải trí để xem. Có nghỉ ngơi chừng giữa đêm để vệ sinh và ăn uống… 8g đêm xuất phát, 5g sáng tới nơi.

Wal
2016.06.23

Older Posts »

Danh mục