Lan man hoa cúc


Mình yêu hai món canh nhất trần đời: canh khổ qua nhồi thịt và canh lá giang. Có lẽ bị hai món đó làm “mờ mắt” mà trước giờ chẳng nghĩ rằng mình cũng rất mê canh cúc. Nay bỗng phát hiện ra, khi thấy canh cúc trên mâm là thấy thòm thèm, ăn hết rồi lại muốn ăn thêm…


Mình yêu hai món canh nhất trần đời: canh khổ qua nhồi thịt và canh lá giang. Có lẽ bị hai món đó làm “mờ mắt” mà trước giờ chẳng nghĩ rằng mình cũng rất mê canh cúc. Nay bỗng phát hiện ra, khi thấy canh cúc trên mâm là thấy thòm thèm, ăn hết rồi lại muốn ăn thêm…

Ngày bé xíu vẫn thường tự vấn một cách ngây ngô rằng cây hoa cúc với cây cúc dùng nấu canh có gì khác nhau? Đã thế, mỗi đợt Tết về, nhà thường mua cặp chậu cúc, hoa vàng rực, lá mởn xanh, và trong những lần ấy đầu cũng không quên tự hỏi với một vẻ nuối tiếc: “Lá này sao không dùng lấy để ăn? Tết xong, bỏ phí!” Tâm hồn hồi ấy (và cả bây giờ!) cứ nhìn cây mà nghĩ đến… nồi canh!

Chợt liên tưởng dù chẳng mấy liên quan, chuyện hoa đào ngày tết với quả đào mình ăn, trồng để lấy hoa sẽ chăm theo cách này, trồng để lấy quả thì chăm theo cách khác. Và nay còn có chuyện rau cho mình ăn thì trồng thế này, rau cho họ ăn thì trồng thế khác, ra rả nhiều nơi.

Đã nhớ rồi thì nhớ lấn qua cả truyện “Đi qua hoa cúc” của Nguyễn Nhật Ánh, mà ngày xưa mình từng mê mẩn, nhưng chỉ nhớ đến đó thôi, nội dung phai nhạt hết. Trí nhớ nó vốn lẩn thẩn, lắm khi hời hợt, chỉ chạm được cái lớp “vỏ” ngoài cùng. Nhưng cũng được cái ai nợ thì nhớ dai… Chắc trong “ký ức lõi” (theo lối tưởng tượng kiểu “Inside out”) nó có riêng một khu siêu ngăn nắp và khoa học mang tên “Trung tâm lưu trữ nợ nần”.

Cải cúc mình mê ăn, hoa cúc mình mê ngắm. Trong ký ức hiện về, hình như đó là một chiều chừng năm cuối đại học, mấy anh em nhà trọ 1A Nguyễn Thị Ngĩa dạo ra phố đường (?), Đà Lạt. Rồi leo lên một quán cafe ở tít trên cao của đường này, uống trà, ngắm phố. Chỗ này hình như nổi tiếng về trà làm từ các loại hoa, mỗi người gọi một loại, mình gọi trà hoa cúc, rồi thấy… phí, nó không hấp dẫn như mường tượng.

Dù sao thì với hoa, chỉ thích khi nó khi còn nằm trong chậu, trên thân, cành. Hoa cúc cũng vậy, thích ngắm nó vào những ngày xuân, phố xá, nhà nhà, cúc vàng ngợp sắc. Tết, ai cũng mong có chậu đào, chậu mai trưng trong nhà, một số nhà ít điều kiện hơn hoặc không thích đào, mai thì một chậu cúc cũng đủ làm mùa xuân thêm hương thêm sắc. Lặng lẽ lắm nếu ngày Tết trong nhà thiếu vắng sắc hoa.

Wal
8-9.9.2015

Nho


hoa-ngu-sac

Nhắc đến quả nho, ắt hẳn ai cũng sẽ liên tưởng ngay đến loại nho quen thuộc, quả vỏ tím, vỏ xanh, chua chua, ngọt ngọt, thường ngày vẫn hay ăn. Nhưng không, quả đang được nhắc đến ở đây lại là loại nho mà trẻ con phố núi thuở bé vẫn hay gọi (có lẽ giờ vẫn còn chăng?). Kỳ thực quả này có quá nhiều tên để gọi, ở Bình Định quê tôi, gọi nó với cái tên ổi tàu (giờ mới biết), đâu đó (miền Trung?) gọi là ổi thơm, nho thơm, hay cái tên đẹp hơn: hoa ngũ sắc. Miền Nam không hiểu sao gọi chúng bằng cái tên nghe có vẻ nặng mùi: cứt lợn, mà với cái tên này thì đúng thật là mãi sau này khi vào Đà Lạt mới được nghe.

Thuở bé, phố núi loài hoa này rất nhiều, mọc hoang mọc dại bên mương, bên đường, trong những cánh đồng hoang đầy cây bụi cỏ, bên trên những công trình hoang phế của ngày tháng cũ… Nó cùng bao loài cây hoang dại khác, trỗi lên, sừng sững, khi loài người bỏ đi, chúng lặng thầm mọc lên, ngự trị.

Cũng có đôi nơi lấy chúng làm bờ rào rồi chăm chút cho nó thêm đẹp. Nếu mọc dại ven đường thì cơ hội sống sót vẫn cao, vì dù sao thì giữa những loài cỏ dại, nho vẫn có ích hơn, ít ra là cho lũ trẻ phố núi.

Ngày đó, cũng như bao đứa trẻ nghèo khác, mỗi khi vào mùa, nho mang đến những thú vui mà lũ trẻ khó bỏ qua. Chúng ngắt lấy từng bông hoa nhỏ, đưa lên miệng hút chút xíu mật bên trong thay cho những chú ong. Xong, đôi khi chúng lấy chỉ, kim xâu lại những bông hoa nhỏ ấy thành vòng đeo cổ, đeo tay, làm điệu. Đến mùa nho chín, lũ trẽ bắt đầu “thu hoạch”, chúng đi lựa từng chùm nho, nhặt lấy quả nào thâm chín để rồi cho ngay vào bụng, ấy mà khoan, chúng cũng phải phủi phủi bụi & phần cánh cuống còn bám lại trên quả mới đánh chén. Quả sống thì để dành, chờ ngày chín rồi hái nốt. Những quả nho xanh cỡ lớn đôi khi được chọn ra làm “đạn” cho những chiếc ống thụt sử dụng trong những “trận chiến”, dù sức công phá thua xa hạt cò-ke nhưng nó là thứ dễ tìm hơn cả, và an toàn.

Lá nho rõ nặng mùi, nhưng tác dụng cầm máu tốt, cứ mỗi lần bị đứt tay chảy máu, hoặc té trầy gối thì việc đầu tiên là tìm lá nho, nhai nát rồi đắp lên.

Về chủ đề này, Võ Phiến có nguyên một bài dài khi tình cờ gặp loài hoa ấy ở xứ người, chỉ đơn giản vậy thôi mà thúc ông chuyển hẳn nhà từ Trung Bắc đến tận Tây Nam nước Mỹ, có lẽ vì ông “nặng tình” với nó, mà chính xác hơn như Võ Phiến nói: “Có thể bảo về một phương diện nào đó tôi tự đồng hóa với ổi tàu. Nó là tôi.”

Đôi lúc tự hỏi, không biết tôi mê văn Võ Phiến ở những điểm nào mà “cuồng” đến vậy. Trong các điểm nếu có thể ngồi liệt kê ra ngay thì đó là việc ông kể lại những ký ức về quê hương làm tôi đồng cảm, chí ít là người đồng hương, và dù sinh ra và lớn lên ở Kon Tum đi chăng nữa thì nơi này vẫn đầy những người Bình Định đến an cư lạc nghiệp để rồi mang theo những nét sinh hoạt, văn hóa, ẩm thực… tương đồng, nên có khi ông nhắc đến một chuyện, dù xửa xưa hàng mấy chục năm trước, tưởng chừng chỉ còn trong dĩ vãng thì nó vẫn còn diễn ra trong thời kỳ tôi sinh ra và lớn lên, như chuyện về loài nho trên…

Wal

11.7.2016

Bánh xèo


Mùa mưa về, lại thèm bánh xèo hơn cả. Ở Sài Gòn, cũng từng thử ghé nhiều điểm để ăn, nhưng rồi đọng lại cũng chỉ có một điểm hay ghé tận bên Gò Vấp. Cách đây chừng hơn ba năm, khi đó mình còn ở bên này, hay rủ rê các bạn ra đồng diều thả diều, rồi sau đó là tiết mục bánh xèo miền Trung ngay góc ngã tư. Giờ thì xa rồi, nhưng thi thoảng thèm, vẫn ghé.


banh-xeo

Mùa mưa về, lại thèm bánh xèo hơn cả.

Ở Sài Gòn, cũng từng thử ghé nhiều điểm để ăn, nhưng rồi đọng lại cũng chỉ có một điểm hay ghé tận bên Gò Vấp. Cách đây chừng hơn ba năm, khi đó mình còn ở bên này, hay rủ rê các bạn ra đồng diều thả diều, rồi sau đó là tiết mục bánh xèo miền Trung ngay góc ngã tư. Giờ thì xa rồi, nhưng thi thoảng thèm, vẫn ghé.

Bánh xèo có lẽ là món mà dường như loại rau sống nào cũng dùng chung được, chỉ có thực khách là kén chọn giữa hằng tá rau trước mặt. Mỗi nơi, lại sử dụng một vài loài rau khác biệt, có lẽ tùy vào loại rau vốn có của vùng đất ấy, và cả… sở thích hoặc thói quen chọn rau của chủ tiệm.

Bánh xèo trong trí nhớ chỉ còn lưu lại thuở còn học cấp II. Không rõ ngày ấy có việc gì (đi học thêm cũng nên?), có những ngày về trễ chừng 6g tối, lại ghé vào xóm cũ Hùng Vương, góc giao với Mạc Đĩnh Chi để ngồi bên hàng bánh xèo của một cụ già, với chừng 2.000Đ là có được một bữa no (chừng 7 cái bánh). Có những ngày trời mưa, vẫn cứ phải ghé ăn cho bằng được. Mình luôn làm hao dưa góp chua và nước mắm chấm, còn rau sống thì luôn sạch.

Nhà mình ngày đó cũng hay đổ bánh xèo, nhà có hai cái khuôn để đổ bánh, khi cần là lấy gạo đem ra ngoài để nhờ xay hộ, rồi mua thêm các nguyên liệu, nào thịt, nào tôm, nào rau, nào giá… về để chế biến. Bánh nhà làm thường khá mềm, với một nùi giá thịt bên trên rất là đầy đủ chất. Tiệm ven đường của bà mình hay ghé thì bánh giòn hơn nhưng vẫn giữ được độ mềm của nó.

Vào Sài Gòn thường chỉ thấy loại bánh xèo giòn, có khi chủ tiệm xào đi xào lại vài lần (đổ bánh trước, khi khách đến lấy ra làm nóng lại), đâm ra bánh thừa nhiều dầu mỡ, lại cứng đi, giá có chỗ không cho vào. Mình thì không mê bánh xèo ướt lắm, nhưng cũng không thích bánh xèo quá giòn. Ở Sài Gòn ăn riết bánh xèo giòn, rồi lại nhớ đến món bánh xèo ướt mềm nhà làm ngày trước, hay món bánh xèo vừa giòn vừa mềm của bà cụ bán ven đường. Có những nơi, nước chấm chỉ đơn thuần là nước mắm được pha lại cho vừa vị, giống cách làm ở nhà. Có những nơi, nước chấm dùng làm bằng tương đậu phộng cùng một số gia vị khác, làm món bánh thêm phần ngon hơn, dù bánh xèo chưa thực sự xuất sắc.

Hôm rồi ghé đồng diều, rồi ghé lại quán hay ăn. Ông anh người ngoài Bắc có vẻ không sành cuốn, tự cuốn đâu được vài ba cuốn rồi nhờ mấy chị, chị già ngồi kế bên mình cũng te te cuốn cho ông anh một cuốn nhưng bị rách, bèn chống chế do bánh rách. Rồi bị ông anh độp lại: Không biết cuốn mới để rách. Ổng nói có lý, mình thì cũng định thêm, rằng dù bánh có rách sẵn, nếu biết cầm cuốn bánh nữa thì có rách cũng chẳng hề chi.

Người ta hay bảo mùa mưa, ăn bánh xèo là số dzách. Mình thì có lẽ ngoài yếu tố hợp thời điểm ra, thì có lẽ kỷ niệm ngày cũ nó đeo sau để rồi tạo thành mốt nếp quen. Nghĩ cũng lạ, không chịu nhớ bánh xèo của nhà làm, mà chỉ nhớ bánh xèo hàng quán ấy vào những đêm mưa, cạnh ngọn đèn dầu, dưới lớp mái bạt tạm che đủ không để ướt người, bà ngồi đó đổ bánh xèo, từng chiếc nóng hôi hổi, ăn đến đâu vừa kịp làm đến đó, tiếng xèo xèo, đúng nghĩa, thân thương…

Wal
4.7.2016

Bánh tiêu


Ngày bé, thuở trước khi bước sang lớp 4, một trong những phần quà sáng khoái khẩu là các thể loại bánh bò, bánh cam, châu quẩy, và nhất trong chỗ đó là bánh tiêu.


Ngày bé, thuở trước khi bước sang lớp 4, một trong những phần quà sáng khoái khẩu là các thể loại bánh bò, bánh cam, châu quẩy, và nhất trong chỗ đó là bánh tiêu.

Chỉ đến mốc lớp 3, vì sang lớp 4 phải chuyển trường khi nhà chuyển sang sống hẳn gần khu xóm “Cổng Xanh”, và kể từ ngày ấy không còn nhiều cơ hội để thưởng thức những món bánh này.

Sát ngôi nhà cũ là gia đình người Hoa, chuyên làm và bán các loại bánh kể trên, nên thi thoảng được thưởng thức quà sáng bằng món này, thi thoảng thôi vì ngày ấy hiếm hoi mới vòi mua được, đôi lúc những món này là quà trưa khi bánh ế mang về, đôi khi được bà Năm gọi í ới, mang cho.

Ngày ấy, những lúc sáng sớm không phải đi học, thi thoảng chạy qua nhà bà Năm để chơi với lũ nhóc – cháu nội, ngoại của bà, rồi ngắm các công đoạn làm bánh, từ xay gạo bằng những chiếc cối đá thật to, đến cán bột, vo tròn… Mê nhất là công đoạn chiên, những chiếc bánh đổi màu, căng phồng lên dưới lớp dầu sôi sục. Vì một phần mê cảnh những chiếc bánh tiêu từ dẹp lép đến căng phồng nên cũng… mê ăn, lớp vỏ dày vàng cam giòn mềm hấp dẫn.

Bẵng đi một thời gian dài, lên Đà Lạt học, lại có dịp thưởng thức bánh tiêu với vị khác hơn – có thêm nhân đâu xanh bên trong. Bánh tiêu ngã 5 Đại học từng là một điểm “siêu hot”, bánh lúc nào cũng đắt hàng, hết sớm, và thường xuyên có cảnh xếp hàng chờ mua.

Mỗi lần ghé, cũng phải mua một lần 4-6 cái ăn cho bõ ghiền. Năm cuối, bị “tống cổ” khỏi nhà trọ 1A, mất đi “chiến hữu”, chuyển qua chỗ trọ mới chỉ có ba phòng, chỉ “tuyển” toàn “đực rựa” cho đỡ phức tạp, lại không thân thiết như bên 1A, nên bánh tiêu mua về thường một mình âm thầm đánh chén.

Cũng có đôi khi đi với cả một hội cuồng bánh tiêu, tới, gọi một nùi, rồi ngồi bên trong quán nước liền kề đấy, vừa măm măm vừa ngắm phố đêm. Hay thi thoảng sang rủ nhau leo lên cafe Sân Thượng ngã 5, chọn góc ngoài rìa, rồi ngồi ngắm sương lên…

Sài Gòn, ít có dịp ăn bánh tiêu hơn. Có hôm đi gửi mẫu, vào phòng kế toán thanh toán tiền, thấy chú trong phòng mua đâu đó về một bịch bánh tiêu thơm lừng, làm nhớ. Có những đợt ghé lại Đà Lạt chơi, cũng lọ mọ tìm về góc ngã 5 ấy, ăn để tìm lấy vị quen…

Wal
22-23.12.2015

Tạt


Phố núi đầu thập niên 90, mà cụ thể là xóm Hùng Vương, Kon Tum, gần”chùa một mắt” cũng có nhiều thú vui gắn bó một thời, mà có lẽ ngày nay nhiều trò trong số đó gần như “tuyệt chủng”. Giờ ngồi nhớ lại, kể chơi…


IMAG0727

Tạt

Nôm na là những trò chơi được ném từ một vạch mức đến một đích đã được định sẵn. Trẻ thơ thường biết đến các trò: tạt lon, tạt hình, tạt giấy. Ngoài ra có một trò khác cũng có tên là “tạt”, thường được gấp từ giấy đôi vở,người chơi cầm 1 đầu “quạt” mạnh cho gió luồng vào tạt làm giấy bung ra kêu “tạch” thật to, nhưng thôi tạm để chuyện tạt này sang bên để nói về những trò tạt khác.

Một trong những trò “ăn thua” ít tốn kém nhất có thể nghĩ ngay đến là tạt giấy. Mỗi nhóc có thể tự trang bị cho mình “tài sản” nhiều hay ít tuỳ vào lượng giấy bỏ có sẵn trong nhà và có thể tận dụng vào làm tạt. Tiện lợi nhất là các tập vở, một tờ giấy đôi có thể xé ra để làm 4 cái tạt. Ngoài tập giấy có thể lấy sách, báo để làm. Và “máu ăn thua” bắt đầu từ đây!

Sân tạt của bọn nhóc thường là những khoảnh sân bê tông trước nhà. Ngày đó nhà nào có sân bê tông thì trông có khá hơn chút so với nhiều nhà trong xóm nhỏ. Những khoảnh sân ấy thực ra cũng mấp mô gập ghềnh những chỗ nối xi măng,có sân kinh khủng hơn, khi nền là những mảng nền nhà bị đập bỏ được tận dụng chắp vá làm nền. Những sân này dân tạt phải thật sự “lão luyện” mới”kiếm được miếng tạt mà ăn”, còn cỡ như những “tay mơ” thì chỉ có “ăn vấp” liên tục mà thôi.

Ngày ấy, có khi nhà trữ đến cả… bao tải tạt. Cứ sau mỗi hè lại gom thêm được ít, đến mùa lại mang ra. Nói chung ngày đó cũng thuộc vào hàng có”của ăn của để”, “làm nên ăn ra” từ “nghề” tạt.

Ấy là thời kỳ “vàng son” khi “máu ăn thua” chỉ dừng lạiở trò tạt dép. Khi trò chơi trẻ nhỏ dính đến bàn tay của người lớn thì nó trởthành ăn thua thứ thiệt. Tạt giấy chuyển một bước ngoạn mục từ “sân”lên “sòng”.

Bước chân vào “sòng”, dĩ nhiên kinh nghiệm của lũ nhóc choai choai sao bằng người lớn. Bọn nhóc tham gia được chừng chục ván là… nhìn nhau rồi nhìn người lớn chơi.

Người lớn đã chơi thì ăn thua lắm. Khi “hạ” được lũ nhóc “tép riu”, người lớn bước vào những cuộc đặt lớn hơn, từ vài chục lên vài trăm cái tạt, từ cái tạt hiện hữu đến những cái tạt không hiện hữu, chúng là những tập giấy vụn, những cuốn sách còn đang nằm trên kệ được mang xuống áng chừng.Bọn nhóc đi từ tròn xoe này đến tới tròn xoe khác, bọn nhóc có căng thẳng nhưng chẳng bao giờ đến thế này. Bọn nhóc có đổ mồ hôi, nhưng là do tạt giữa cái nắng hè chứ không phải ngồi trong nền nhà mát rượi này mà đổ. Bọn nhóc thấy người lớn mặt đôi khi đỏ gay, dữ dằn, trông thật đáng sợ. Trong mắt bọn nhóc thấy anh mập sáu ngón sống trong “chùa một mắt” “giàu” ghê, không biết trong “chùa” đâu ra nhiều giấy đến vậy, anh chạy đi lấy hết chồng này đến chồng khác ra “nộp”. Bọn nhóc phục ba cậu bạn, cái gì cũng giỏi, mấy món trò chơi siêu lạ, độc, bọn nhóc trong xóm có mơ cũng không có được, toàn do ba cậu bạn tự làm, nhờ thân và cùng lớp nên thi thoảng cũng được dùng ké chút, trò ăn thua này, ba cậu bạn cũng giỏi không thua kém. Bọn nhóc cũng hồi hộp thay khi ba cậu bạn thua vài cuốn sách, rồi mừng thay khi lấy lại được. Thú chơi trẻ nhỏ theo cách người lớn thật thót tim.

(còn tiếp)

Wal

1-11.7.2015

Phượng


Hôm nọ, đang đi chụp hình cùng, cô bạn bỗng nhặt một bông hoa phượng lên còn nguyên vẹn cánh, có lẽ vừa rụng bởi cơn mưa chiều, xong, nàng nâng niu cẩn thận cho vào túi xách nho nhỏ. Không rõ cô nàng định sẽ làm gì, thì vài hôm sau biết kết quả: 3 cánh nằm trong bụng nàng, 2 cánh còn lại nằm trong bụng người khác…


Hôm nọ, đang đi chụp hình cùng, cô bạn bỗng nhặt một bông hoa phượng lên còn nguyên vẹn cánh, có lẽ vừa rụng bởi cơn mưa chiều, xong, nàng nâng niu cẩn thận cho vào túi xách nho nhỏ. Không rõ cô nàng định sẽ làm gì, thì vài hôm sau biết kết quả: 3 cánh nằm trong bụng nàng, 2 cánh còn lại nằm trong bụng người khác…

Xưa, không hẳn là mê phượng, nhưng nhìn lại thì đúng là phượng đã gắn bó gần như suốt khoảng thời gian khi còn là học sinh.

Không hiểu sao cây phượng thường được trồng trong các khuôn viên trường học, từ cấp I đến cấp III, mỗi trường đều có ít nhất 4-5 cây, trường cấp I Trần Phú ngày đó khi vừa mới xây xong, cũng phải trồng cho bằng được vài cây. Có lẽ đặng sau này, mỗi khi hè về, mùa chia tay đến, những đứa nhóc lại có trò sên sến: ép cánh phượng thành những con bướm cất vào quyển lưu bút, chừng mười, hai mươi năm sau lấy ra xem chơi…

Gần nhà, có nguyên một hàng phượng đủ lớn, đủ to để che mát một góc đường, và đủ để bọn nhóc thoả chí leo trèo vào những ngày hè để ngắt hoa, vặt quả phượng khô…

Hoa, chúng chảnh lắm, chỉ ăn phần cánh có đốm trắng mà cô nàng nọ bảo là “phần của nhà giàu”. Đơn giản vì mấy cây phượng xóm “cấp thoát nước” đủ cung cấp cho lũ trẻ suốt hè một cách sung túc, và phần nữa, chúng có thể tự leo trèo để hái khi cần, thay vì chờ rụng như sung.

Nụ, chúng tách vỏ ra, phần cánh có đốm trắng lấy ăn. Nhuỵ, chúng ngắt ra, chọn những nhuỵ dài, thân to khoẻ để chơi đá gà. Và cuống, chúng gom lại cho vào bịch, làm “đạn” ná, bắn nhau.

Ngày phượng kết quả, chúng trèo lên vặt lấy quả già, dĩ nhiên vỏ vẫn còn đang xanh, tẻ đôi lấy hạt ăn, vị ngòn ngọt, phần nhân trắng đục đục dai dai, món này chúng thích đánh chén hơn là những cách hoa.

Chợt nghĩ, có lẽ cánh nữ không có nhiều sự lựa chọn cho thú vui bên cây phượng nhiều hơn nam, nên họ dành tình yêu cho những thú vui có được nhiều hơn, như chén… mọi cánh hoa, hoặc lấy hoa ép vào tập vở.

Ngày quả già khô, chỉ cần sau một đêm mưa gió, quả rụng rơi đầy đường, lũ trẻ vẫn còn thú vui bên chúng: đập hạt ăn phần nhân cưng cứng bên trong, hoặc phụ gia đình mang về nhà nhóm củi, quả phượng khô dễ bén lửa và cháy rất to.

Riêng có một thú hơi hãi hùng ngày đó không dám tham gia: bắt sâu đo doạ cánh nữ. Mỗi lần thấy chúng nhúc nhúc là đủ khiếp đảm. Trường cấp II Lý Tự Trọng ngày đó có một đợt sâu trên cây phượng “được mùa”, sâu chi chít, chúng bò lổm ngổm dưới sân trường, trên hành lang, chúng “đu dây” tòn teng ngay trước mặt. Chúng còn được sự trợ giúp của những “bàn tay đen” để “được” nằm ở những vị trí “đẹp” hơn: trên mặt ghế, trên mặt bàn, trên vai áo trắng, trên đầu tóc ai… Để rồi có những “anh hùng” theo đúng nghĩa hoặc giả danh, giơ tay cứu vớt những bạn đang kêu gào, hoặc không hay biết có sự đáp đậu của loài sâu.

Ngày cuối cấp III, trò ép cánh phượng thành hình con bướm vào tập vậy mà vẫn chưa lỗi thời. Không hiểu từ đâu trong cuốn album đựng tem sống nho nhỏ, nằm sót lại một “con”. Cũng chẳng chiếm chỗ mấy nên cứ để vậy, sau này vài chục năm nếu còn, lục lại thấy, khéo khi ấy lại sến rện: rưng rưng…

IMG_9949-5

Wal
7-14.6.2015

Truyện tranh


Trước khi đọc các thể loại sách linh tinh là đọc truyện chữ, và trước cả thời đọc truyện chữ là truyện tranh. Chẳng biết tự bao giờ bị thể loại này làm cho mê mẩn, mà tuổi ấy nhóc nào chẳng mê? Ngày đó phố núi chủ yếu nhập truyện tranh của hai nhà xuất bản: Trẻ và Kim Đồng, và những quyển đầu tiên đọc là Đôrêmon. Nhà không có điều kiện để mua, hiếm hoi mới được ba mua về một tập, để rồi mấy anh em tranh nhau ngấu nghiến. Còn lại thường phải cuốc bộ ghé nhà cậu bạn để ôm về – Cậu bạn nối khố vốn “truyền” lại nhiều thú từ việc đọc truyện, vẽ vời, đến chơi game.


Trước khi đọc các thể loại sách linh tinh là đọc truyện chữ, và trước cả thời đọc truyện chữ là truyện tranh. Chẳng biết tự bao giờ bị thể loại này làm cho mê mẩn, mà tuổi ấy nhóc nào chẳng mê? Ngày đó phố núi chủ yếu nhập truyện tranh của hai nhà xuất bản: Trẻ và Kim Đồng, và những quyển đầu tiên đọc là Đôrêmon. Nhà không có điều kiện để mua, hiếm hoi mới được ba mua về một tập, để rồi mấy anh em tranh nhau ngấu nghiến. Còn lại thường phải cuốc bộ ghé nhà cậu bạn để ôm về – Cậu bạn nối khố vốn “truyền” lại nhiều thú từ việc đọc truyện, vẽ vời, đến chơi game.

Ngoài truyện của hai nhà xuất bản kể trên, thường thấy truyện nhà xuất bản Đồng Nai. Sau này, khoảng năm 1998 trở đi, thị trường truyện tranh nở rộ tại phố núi, với đầy những thể loại, tác giả. Bìa cũng được chăm chút hơn, một số NXB cán màng nilon bọc ngoài, tuy nhiên giấy chất lượng rất xấu, mặt này láng, mặt kia xù xì lợn cợn (trừ NXB Trẻ và Kim Đồng). Và những tác phẩm có tranh hở hang đều bị tẩy đi hoặc… vẽ lại, đại loại váy ngắn bỗng hoá dài, đa phần cẩu thả và nham nhở. Ngày đó đọc truyện thấy hơi ngược ngạo, lờ mờ đoán là truyện bị in ngược, nhưng không rõ lý do.

Gần như như bộ truyện tranh nào nhập về phố núi cậu bạn hầu như không bỏ sót, trừ những bộ hơi nhảm hoặc dành cho các chị em. Có những bộ của các NXB không nổi lắm, mỗi tập chỉ nhập về chừng 10 quyển, thành ra phải nhanh chân có mặt tại nhà sách đầu mối trước khi chuyển về các tiệm sách, hoặc rơi vào tay đang dõi theo bộ này. Điểm lại, có vài ba nhà sách thường đến, còn nhớ được mỗi tên nhà sách Thanh Tịnh vì hay ghé hơn cả và gắn nhiều kỷ niệm, các nhà sách ấy nay đa phần đã đổi tên, hoặc chuyển hướng kinh doanh.

Trong chỗ truyện từng đọc, thích nhất là các tác phẩm của Osamu Tezuka, nét vẽ đơn giản, đôi khi bắt gặp lại những nhân vật này ở bộ truyện kia, với những tác phẩm như Chim lửa, Astro boy Cậu bé ba mắt, bác sĩ quái dị… Những truyện này trước không được đọc trọn bộ vì đến khi biết, nó đã phát hành đến tập cuối từ lâu.

Tiếp sau là tác phẩm của tác giả Mitsuru Adachi, mặc dù vào khoảng thời gian đó ở Việt Nam chỉ phát hành 2 bộ truyện, Anh em sinh đôi và một bộ khác liên quan đến kiếm đạo. Đa phần, nhân vật chính của các bộ truyện có nét mặt giống nhau, đến cả motif truyện cũng đầy nét tương đồng, chủ yếu đề cập đến chuyện tình cảm thời cấp 3, dùng các môn thể thao trong trường để làm chất liệu, và thường thấy nhất là chơi bóng chày. Về việc khai thác chủ đề tình cảm, Mitsuru Adachi là một trong số rất ít tác giả từng đọc qua đọng lại đầy những cảm xúc, vui, buồn, sâu lắng, cứ man mác lan toả… mỗi khi đọc xong bộ truyện.

Không hiểu sao vào thập niên 90 ấy, nội dung truyện thường xoay quanh các chủ đề về thể thao, từ bóng đá, bóng chày, golf, kiếm đạo đến judo, quyền anh, điền kinh… Ngoài ra có xuất bản một số ít bộ truyện liên quan đến lịch sử, cổ trang, gợi về giai đoạn cách đó chừng vài trăm năm, không đa dạng như bây giờ. Năm cấp II, trong một buổi tập thể dục, thầy có hỏi quảng đường chạy thi Marathon là bao xa, liền trả lời 42.195 km, cũng nhờ đọc truyện mà ra.

Phố núi, chẳng biết sân đánh golf trông như thế nào, cũng chưa từng thấy một quả banh golf, vì mê truyện và môn này, đành tự chế sân golf theo phong cách riêng của mình: gậy làm từ những cây mì sau vườn, gốc hơi phình, được đẽo, gọt để chúng ra dáng đầu của một cây gậy đánh golf, banh, dùng những quả banh tennis có sẵn, sân golf là bãi đất trống của xưởng gỗ phía trước nhà, rộng thênh thang, làm được chừng vài ba lỗ. Mỗi lần chơi, đánh đến hơn chục gậy, banh vẫn chưa vào lỗ.

Ngày đó có những bộ truyện đang ra dở dang bỗng dưng ngừng đột ngột không rõ lý do, không lời thông báo, nhất là của những NXB chỉ chuyên tâm ấn loát và phát hành, không quan tâm đến việc tạo sân chơi, kết nối như của NXB Trẻ hay Kim Đồng nên không biết đến khi nào có tiếp. Nguyên do đơn giản thường vì thời điểm ấy tác giả vẫn còn đang viết những tập tiếp theo.

Đợt Tết vừa rồi về nhà dọn kho, lục thấy cuốn sổ ghi chép cũ khổ nhỏ, cũng không nhớ là từng có nó, ghi lại việc mượn-trả truyện. Ghi đâu được một ít rồi dừng, có lẽ vì thế mà truyện cứ dần thất thoát, thất thoát, đến sạch trơn. Trí nhớ cũng dần phủ bụi, chẳng nhớ hết những bộ truyện từng có và từng đọc. Có một dạo thời cấp II, thi thoảng đem cho cô bạn gần nhà mượn truyện để đổi sách văn về đọc. Và cũng cấp II, năm cuối cấp, cô bạn thân cùng lớp, cũng cùng mê truyện, hay ghé chơi, mượn về, rồi nhận thấy bạn nảy sinh tình cảm, đâm… sợ nên không cho đến nữa, thậm chí nặng lời để rồi tình bạn nứt rạn đến giờ… Cuối cấp II mà vẫn còn ngố đặc.

Cũng chuyện cấp II, một thời có thú vẽ lại hình từ các bộ truyện tranh lên tập vở 96 trang, có tập cho bạn, có tập lưu lại, rồi cũng thất lạc theo tháng năm…

…Mất hết, chỉ còn lại chút ký ức đang nhạt nhoà dần, lục lại, và ghi.

Wal

24.6-19.7.2014