Nho


hoa-ngu-sac

Nhắc đến quả nho, ắt hẳn ai cũng sẽ liên tưởng ngay đến loại nho quen thuộc, quả vỏ tím, vỏ xanh, chua chua, ngọt ngọt, thường ngày vẫn hay ăn. Nhưng không, quả đang được nhắc đến ở đây lại là loại nho mà trẻ con phố núi thuở bé vẫn hay gọi (có lẽ giờ vẫn còn chăng?). Kỳ thực quả này có quá nhiều tên để gọi, ở Bình Định quê tôi, gọi nó với cái tên ổi tàu (giờ mới biết), đâu đó (miền Trung?) gọi là ổi thơm, nho thơm, hay cái tên đẹp hơn: hoa ngũ sắc. Miền Nam không hiểu sao gọi chúng bằng cái tên nghe có vẻ nặng mùi: cứt lợn, mà với cái tên này thì đúng thật là mãi sau này khi vào Đà Lạt mới được nghe.

Thuở bé, phố núi loài hoa này rất nhiều, mọc hoang mọc dại bên mương, bên đường, trong những cánh đồng hoang đầy cây bụi cỏ, bên trên những công trình hoang phế của ngày tháng cũ… Nó cùng bao loài cây hoang dại khác, trỗi lên, sừng sững, khi loài người bỏ đi, chúng lặng thầm mọc lên, ngự trị.

Cũng có đôi nơi lấy chúng làm bờ rào rồi chăm chút cho nó thêm đẹp. Nếu mọc dại ven đường thì cơ hội sống sót vẫn cao, vì dù sao thì giữa những loài cỏ dại, nho vẫn có ích hơn, ít ra là cho lũ trẻ phố núi.

Ngày đó, cũng như bao đứa trẻ nghèo khác, mỗi khi vào mùa, nho mang đến những thú vui mà lũ trẻ khó bỏ qua. Chúng ngắt lấy từng bông hoa nhỏ, đưa lên miệng hút chút xíu mật bên trong thay cho những chú ong. Xong, đôi khi chúng lấy chỉ, kim xâu lại những bông hoa nhỏ ấy thành vòng đeo cổ, đeo tay, làm điệu. Đến mùa nho chín, lũ trẽ bắt đầu “thu hoạch”, chúng đi lựa từng chùm nho, nhặt lấy quả nào thâm chín để rồi cho ngay vào bụng, ấy mà khoan, chúng cũng phải phủi phủi bụi & phần cánh cuống còn bám lại trên quả mới đánh chén. Quả sống thì để dành, chờ ngày chín rồi hái nốt. Những quả nho xanh cỡ lớn đôi khi được chọn ra làm “đạn” cho những chiếc ống thụt sử dụng trong những “trận chiến”, dù sức công phá thua xa hạt cò-ke nhưng nó là thứ dễ tìm hơn cả, và an toàn.

Lá nho rõ nặng mùi, nhưng tác dụng cầm máu tốt, cứ mỗi lần bị đứt tay chảy máu, hoặc té trầy gối thì việc đầu tiên là tìm lá nho, nhai nát rồi đắp lên.

Về chủ đề này, Võ Phiến có nguyên một bài dài khi tình cờ gặp loài hoa ấy ở xứ người, chỉ đơn giản vậy thôi mà thúc ông chuyển hẳn nhà từ Trung Bắc đến tận Tây Nam nước Mỹ, có lẽ vì ông “nặng tình” với nó, mà chính xác hơn như Võ Phiến nói: “Có thể bảo về một phương diện nào đó tôi tự đồng hóa với ổi tàu. Nó là tôi.”

Đôi lúc tự hỏi, không biết tôi mê văn Võ Phiến ở những điểm nào mà “cuồng” đến vậy. Trong các điểm nếu có thể ngồi liệt kê ra ngay thì đó là việc ông kể lại những ký ức về quê hương làm tôi đồng cảm, chí ít là người đồng hương, và dù sinh ra và lớn lên ở Kon Tum đi chăng nữa thì nơi này vẫn đầy những người Bình Định đến an cư lạc nghiệp để rồi mang theo những nét sinh hoạt, văn hóa, ẩm thực… tương đồng, nên có khi ông nhắc đến một chuyện, dù xửa xưa hàng mấy chục năm trước, tưởng chừng chỉ còn trong dĩ vãng thì nó vẫn còn diễn ra trong thời kỳ tôi sinh ra và lớn lên, như chuyện về loài nho trên…

Wal

11.7.2016

Tạt


Phố núi đầu thập niên 90, mà cụ thể là xóm Hùng Vương, Kon Tum, gần”chùa một mắt” cũng có nhiều thú vui gắn bó một thời, mà có lẽ ngày nay nhiều trò trong số đó gần như “tuyệt chủng”. Giờ ngồi nhớ lại, kể chơi…


IMAG0727

Tạt

Nôm na là những trò chơi được ném từ một vạch mức đến một đích đã được định sẵn. Trẻ thơ thường biết đến các trò: tạt lon, tạt hình, tạt giấy. Ngoài ra có một trò khác cũng có tên là “tạt”, thường được gấp từ giấy đôi vở,người chơi cầm 1 đầu “quạt” mạnh cho gió luồng vào tạt làm giấy bung ra kêu “tạch” thật to, nhưng thôi tạm để chuyện tạt này sang bên để nói về những trò tạt khác.

Một trong những trò “ăn thua” ít tốn kém nhất có thể nghĩ ngay đến là tạt giấy. Mỗi nhóc có thể tự trang bị cho mình “tài sản” nhiều hay ít tuỳ vào lượng giấy bỏ có sẵn trong nhà và có thể tận dụng vào làm tạt. Tiện lợi nhất là các tập vở, một tờ giấy đôi có thể xé ra để làm 4 cái tạt. Ngoài tập giấy có thể lấy sách, báo để làm. Và “máu ăn thua” bắt đầu từ đây!

Sân tạt của bọn nhóc thường là những khoảnh sân bê tông trước nhà. Ngày đó nhà nào có sân bê tông thì trông có khá hơn chút so với nhiều nhà trong xóm nhỏ. Những khoảnh sân ấy thực ra cũng mấp mô gập ghềnh những chỗ nối xi măng,có sân kinh khủng hơn, khi nền là những mảng nền nhà bị đập bỏ được tận dụng chắp vá làm nền. Những sân này dân tạt phải thật sự “lão luyện” mới”kiếm được miếng tạt mà ăn”, còn cỡ như những “tay mơ” thì chỉ có “ăn vấp” liên tục mà thôi.

Ngày ấy, có khi nhà trữ đến cả… bao tải tạt. Cứ sau mỗi hè lại gom thêm được ít, đến mùa lại mang ra. Nói chung ngày đó cũng thuộc vào hàng có”của ăn của để”, “làm nên ăn ra” từ “nghề” tạt.

Ấy là thời kỳ “vàng son” khi “máu ăn thua” chỉ dừng lạiở trò tạt dép. Khi trò chơi trẻ nhỏ dính đến bàn tay của người lớn thì nó trởthành ăn thua thứ thiệt. Tạt giấy chuyển một bước ngoạn mục từ “sân”lên “sòng”.

Bước chân vào “sòng”, dĩ nhiên kinh nghiệm của lũ nhóc choai choai sao bằng người lớn. Bọn nhóc tham gia được chừng chục ván là… nhìn nhau rồi nhìn người lớn chơi.

Người lớn đã chơi thì ăn thua lắm. Khi “hạ” được lũ nhóc “tép riu”, người lớn bước vào những cuộc đặt lớn hơn, từ vài chục lên vài trăm cái tạt, từ cái tạt hiện hữu đến những cái tạt không hiện hữu, chúng là những tập giấy vụn, những cuốn sách còn đang nằm trên kệ được mang xuống áng chừng.Bọn nhóc đi từ tròn xoe này đến tới tròn xoe khác, bọn nhóc có căng thẳng nhưng chẳng bao giờ đến thế này. Bọn nhóc có đổ mồ hôi, nhưng là do tạt giữa cái nắng hè chứ không phải ngồi trong nền nhà mát rượi này mà đổ. Bọn nhóc thấy người lớn mặt đôi khi đỏ gay, dữ dằn, trông thật đáng sợ. Trong mắt bọn nhóc thấy anh mập sáu ngón sống trong “chùa một mắt” “giàu” ghê, không biết trong “chùa” đâu ra nhiều giấy đến vậy, anh chạy đi lấy hết chồng này đến chồng khác ra “nộp”. Bọn nhóc phục ba cậu bạn, cái gì cũng giỏi, mấy món trò chơi siêu lạ, độc, bọn nhóc trong xóm có mơ cũng không có được, toàn do ba cậu bạn tự làm, nhờ thân và cùng lớp nên thi thoảng cũng được dùng ké chút, trò ăn thua này, ba cậu bạn cũng giỏi không thua kém. Bọn nhóc cũng hồi hộp thay khi ba cậu bạn thua vài cuốn sách, rồi mừng thay khi lấy lại được. Thú chơi trẻ nhỏ theo cách người lớn thật thót tim.

(còn tiếp)

Wal

1-11.7.2015

Phượng


Hôm nọ, đang đi chụp hình cùng, cô bạn bỗng nhặt một bông hoa phượng lên còn nguyên vẹn cánh, có lẽ vừa rụng bởi cơn mưa chiều, xong, nàng nâng niu cẩn thận cho vào túi xách nho nhỏ. Không rõ cô nàng định sẽ làm gì, thì vài hôm sau biết kết quả: 3 cánh nằm trong bụng nàng, 2 cánh còn lại nằm trong bụng người khác…


Hôm nọ, đang đi chụp hình cùng, cô bạn bỗng nhặt một bông hoa phượng lên còn nguyên vẹn cánh, có lẽ vừa rụng bởi cơn mưa chiều, xong, nàng nâng niu cẩn thận cho vào túi xách nho nhỏ. Không rõ cô nàng định sẽ làm gì, thì vài hôm sau biết kết quả: 3 cánh nằm trong bụng nàng, 2 cánh còn lại nằm trong bụng người khác…

Xưa, không hẳn là mê phượng, nhưng nhìn lại thì đúng là phượng đã gắn bó gần như suốt khoảng thời gian khi còn là học sinh.

Không hiểu sao cây phượng thường được trồng trong các khuôn viên trường học, từ cấp I đến cấp III, mỗi trường đều có ít nhất 4-5 cây, trường cấp I Trần Phú ngày đó khi vừa mới xây xong, cũng phải trồng cho bằng được vài cây. Có lẽ đặng sau này, mỗi khi hè về, mùa chia tay đến, những đứa nhóc lại có trò sên sến: ép cánh phượng thành những con bướm cất vào quyển lưu bút, chừng mười, hai mươi năm sau lấy ra xem chơi…

Gần nhà, có nguyên một hàng phượng đủ lớn, đủ to để che mát một góc đường, và đủ để bọn nhóc thoả chí leo trèo vào những ngày hè để ngắt hoa, vặt quả phượng khô…

Hoa, chúng chảnh lắm, chỉ ăn phần cánh có đốm trắng mà cô nàng nọ bảo là “phần của nhà giàu”. Đơn giản vì mấy cây phượng xóm “cấp thoát nước” đủ cung cấp cho lũ trẻ suốt hè một cách sung túc, và phần nữa, chúng có thể tự leo trèo để hái khi cần, thay vì chờ rụng như sung.

Nụ, chúng tách vỏ ra, phần cánh có đốm trắng lấy ăn. Nhuỵ, chúng ngắt ra, chọn những nhuỵ dài, thân to khoẻ để chơi đá gà. Và cuống, chúng gom lại cho vào bịch, làm “đạn” ná, bắn nhau.

Ngày phượng kết quả, chúng trèo lên vặt lấy quả già, dĩ nhiên vỏ vẫn còn đang xanh, tẻ đôi lấy hạt ăn, vị ngòn ngọt, phần nhân trắng đục đục dai dai, món này chúng thích đánh chén hơn là những cách hoa.

Chợt nghĩ, có lẽ cánh nữ không có nhiều sự lựa chọn cho thú vui bên cây phượng nhiều hơn nam, nên họ dành tình yêu cho những thú vui có được nhiều hơn, như chén… mọi cánh hoa, hoặc lấy hoa ép vào tập vở.

Ngày quả già khô, chỉ cần sau một đêm mưa gió, quả rụng rơi đầy đường, lũ trẻ vẫn còn thú vui bên chúng: đập hạt ăn phần nhân cưng cứng bên trong, hoặc phụ gia đình mang về nhà nhóm củi, quả phượng khô dễ bén lửa và cháy rất to.

Riêng có một thú hơi hãi hùng ngày đó không dám tham gia: bắt sâu đo doạ cánh nữ. Mỗi lần thấy chúng nhúc nhúc là đủ khiếp đảm. Trường cấp II Lý Tự Trọng ngày đó có một đợt sâu trên cây phượng “được mùa”, sâu chi chít, chúng bò lổm ngổm dưới sân trường, trên hành lang, chúng “đu dây” tòn teng ngay trước mặt. Chúng còn được sự trợ giúp của những “bàn tay đen” để “được” nằm ở những vị trí “đẹp” hơn: trên mặt ghế, trên mặt bàn, trên vai áo trắng, trên đầu tóc ai… Để rồi có những “anh hùng” theo đúng nghĩa hoặc giả danh, giơ tay cứu vớt những bạn đang kêu gào, hoặc không hay biết có sự đáp đậu của loài sâu.

Ngày cuối cấp III, trò ép cánh phượng thành hình con bướm vào tập vậy mà vẫn chưa lỗi thời. Không hiểu từ đâu trong cuốn album đựng tem sống nho nhỏ, nằm sót lại một “con”. Cũng chẳng chiếm chỗ mấy nên cứ để vậy, sau này vài chục năm nếu còn, lục lại thấy, khéo khi ấy lại sến rện: rưng rưng…

IMG_9949-5

Wal
7-14.6.2015

Trẻ con phố núi: Mùa đi…


Hành trình khám phá của trẻ thơ, tựa như những chuyến“phượt” đầy tính phiêu lưu của người lớn!

***

Một ngày cuối tuần, lũ nhóc trong xóm đột nhiên nảy ra ý định đi thám hiểm! Thế là cả bọn lên ngay một lộ trình dài băng qua những con đường đất đỏ mà tôi đoán chắc là rất ít người đặt chân.

Cả bọn, đầu đội trời, chân đạp… dép lên đường!

Bên cạnh những khu nhà của quân đôi gần nhà là một cánh rừng nho nhỏ với đầy những cây bụi cỏ, cây rừng và tràm. Mùa về, của rừng, khu này cỏ cây xanh mướt, quả rừng hái ăn không xuể, dâu đất, cứt chuột… mọc ngợp khắp rừng. Đây cũng là nơi quân đội tập luyện, nên vào những mùa đi, của bộ đội, để lại đầy những lô cốt và hào sâu, xẻ ngang cắt dọc cả khu rừng.

Sớm hôm ấy, là mùa đi, của rừng, để lại những gốc cây bụi cỏ trơ khô, những mảnh đất cằn, và những cây rừng hết trái, cũng là mùa đi, của bộ đội. Khu rừng nhỏ này chỉ có thẻ cuốc bộ qua, bởi quanh đây dày đặc những chiến hào tập trận của bộ đội. Lũ nhóc đuọc dịp trung dụng những chiến hào để chơi trò đuổi bắt suốt cả buổi sớm, mãi đến chán mới tiếp tục cuộc hành trình.

Băng qua cánh rừng nhỏ là một chiếc hồ rộng lớn như nằm lọt thỏm giữa thung lũng, bọc ven hồ là những luống rau trồng xanh mơn mởn, nào rau cải, cà rốt, củ cải. Phía xa xa bên kia bờ hồ là con đường chạy chắn ngang, để tạo thành chiếc hồ có hình như quả bầu bị cắt đọt. Hai bên “thân bầu”, một vài ngôi nhà lụp xụp nằm ở trên các triền đồi cao có thể nhìn bao quát toàn cảnh, có lẽ để những đứa trẻ như chúng tôi phải bận tâm lo lắng nếu có ý đồ u ám nào đó bên vườn rau, hay là chiếc hồ rộng nuôi đầy cá bên trong.

Bọn trẻ hôm nay ngoan lắm, không đứa nào bén mảng đến vùng “cấm địa” ấy. Men theo một lối đi khá nhỏ, thoáng chốc, lũ trẻ đã đặt chân trên con đường đất đỏ – vốn đã cắt ngọt chiếc hồ kia.

Đến đây thì địa bàn đã nằm ngoài tầm kiểm soát bọn trẻ, hành trình tiếp đến mới thực sự là khám phá.

Không biết con đường đất rốt cuộc dẫn đến đâu, bọn trẻ cứ đi theo một lộ trình gần như thẳng để khi về còn tìm ra lối. Hình dung thì vậy, chứ lộ trình sắp tới rẽ trái, phải không ít lần. Nhà cửa khu bên này còn thưa thớt và khá tiêu điều. Đất cằn, lại vào mùa khô, cái thứ nóng khô khốc khó thở nương mình vào những cơn gió thổi táp vào người làm bọn trẻ không ít đứa nhăn mặt. Nóng, đầu lại ‘đội trời”!

Bọn trẻ bắt đầu cảm thấy sai lầm khi chọn mùa này để đi, cảm giác đó cũng chỉ mới dấy lên thôi, hành trình vẫn tiếp tục.

Vượt qua một con dốc vốn đầy những “vết thẹo” hình thành do những cơn mưa, bọn trẻ lờ mờ hiểu câu “nước chảy đá mòn”. Dưới con dốc sâu hút ấy là những cánh đồng trải rộng, mùa gặt đã qua, chỉ còn trơ lại xác xơ, lởm chởm những thân lúa, bên cạnh những mấp mô do vết chân hằn lại.

Bọn trẻ tiếc hùi hụi, bởi mùa đi, không chỉ của những cây rừng…

…Bỏ lại sau lưng cánh đồng khô khốc, chúng tiếp bước xa hơn, băng qua con đường mòn, những khu đất trống… mãi đến khi chạm một ngã ba, chúng mới bắt đầu quyết định hướng đi. “Rẻ trái”, một trong số những đứa lớn quyết định…

Con đường bên trái rợp bóng cây hơn, đường nhỏ, hẹp, lối đi lởm chởm đầy sỏi đá vốn đã bị bào mòn tạo một khối hình thù đen bóng nhẵn, có lẽ, xưa, nơi này nhựa đường từng được rải qua. Phía trước là một cây cầu sắt nhỏ, ngắn, nét cũ in hằn lên từ nước sơn đến thớ gỗ lót bên dưới, chúng như đang chờ đợi ngày xây mới, mà có lẽ cũng không cần xây, nước ở dưới con kênh bên dưới như ngừng chảy tự thuở nào. Bọn trẻ hí hửng đu bám đủ kiểu quanh cầu, cứ như các cụ thầy đeo kính mát sờ voi.

Lũ trẻ tiếp tục men theo đường ấy đi sâu vào trong hơn. Lúc này, hiện ra hai bên là những gian nhà của người đồng bào, thưa thớt và lụp xụp, đi thêm nữa thấy lối rẽ xuống dòng sông, một phát hiện tuyệt vời của bọn trẻ!

Sông Dakbla ở góc này mang một nét thanh bình, yên ả, lũ nhóc không thể tưởng tượng được là nó khác xa với góc ở gần cầu đến vậy, muốn được ngồi ngắm, muốn được lăn dài bên bãi cát trắng, hay nghịch nước cả ngày bên sông… Không phải đợi chờ, những mong muốn chợt nổi lên của bọn trẻ nhanh chóng thực hiện ngay.

Trước mặt lũ trẻ lã dòng nước êm đềm chảy, phía bên kia sông là một gò đất, ven rìa cát trắng phau, sâu hơn trong gò là những bãi mía, ngô đang gần cuối mùa thu hoạch. Lần nữa, bọn trẻ lại được chứng thực: mùa đi không chỉ của cây rừng… Mùa đi, nước con sông cũng lặng lẽ rút dần, để lại một mực nước nông đủ an tâm cho lũ trẻ chơi đùa. Thấy một người đồng bào, đầu đội thúng bước qua sông, bọn trẻ thì thầm bảo nhau: “Hay là ta qua đó?”

… Không mấy khó khăn, khoảng 10 phút sau, lũ trẻ đã có mặt ở trên gò, lai tiếp tụ một loạt trò chơi, và được thưởng thức cả những khúc mía ngọt lịm đường từ những người đồng bào tốt bụng mang cho.

Thoáng, trời cũng đã đứng nắng, có lẽ duy nhất mỗi cái đói đủ sức gọi bọn trẻ ra về. “Chuyến đi này thật không tiếc”, một trong số bọn trẻ thầm nhủ.

Mùa đi, để rồi mùa khác đến. Bọn trẻ, không chọn, mà chỉ hẹn, đợi mùa đi, lại về, để chúng thêm lần ghé lại nơi đây.

Wal
24.4-7.5.2011

Trẻ con phố núi: Tết về phố núi


Mỗi dịp tết về bọn trẻ chúng tôi ai nấy đều nóng lòng, nhiều lí do lắm, nào được nghỉ đến những hơn 10 ngày, nào được đi hội chợ xuân, chơi lô tô, được nhận lì xì, và còn được chơi pháo… Nóng lòng quá đi chứ!

Trước Tết, các cô chú đến thăm nhà thường hay tặng pháo lắm! Bọn nhóc chúng tôi cứ thấy pháo nhiều là thích, vừa thích tiếng nổ, vừa thích nhặt pháo rơi rụng khi vừa đốt xong, trò mà người lớn vẫn cho là cực kỳ nguy hiểm, cứ bắt phải để pháo nổ xong hết, rồi đợi cả phút mới đuọc vào nhặt pháo rơi. Nhưng mấy ai trong chúng tôi ngoan ngoãn đến vậy, vừa nổ xong là cả lũ nhóc nhảy bổ vào, thà bị mắng hoặc ăn đòn sau đó chứ nhất định không đứng nhìn những viên pháo không nổ nằm lăn lóc chờ hàng phút như vậy! Ba ngày tết, ngày nào pháo cũng nổ râm ran, ngày 3 cử, trước ngõ, quanh xóm, cứ đến giờ lại ngợp xác pháo, cứ đến giờ là bọn trẻ chúng tôi, không ai bảo ai vây thành vòng, chờ pháo nổ hết băng.

Giáp Tết, trong nhà cứ nhộn nhịp hẳn lên, bố mẹ suốt ngày bận bịu với những thứ bánh mứt, nào bánh thuẫn, bánh in, mứt dừa đến bánh tét, bánh chưng…, chẳng còn thời gian quản bọn trẻ, thế là được dịp vùng vẫy cùng mấy đứa trong xóm. Nhưng bọn chúng thì chẳng được yên, thi thoảng bố mẹ lại gọi vào sai vặt hoặc mắng cho, dù nhà bên ấy cũng bận đầy những việc. Người lớn thật là khó chịu, hay quấy rối những khi đang chơi vui như vậy!

Giáp Tết, Hội chợ Xuân lại mọc lên ngay Trung tâm Triển lãm, trường tiểu học của tôi nằm ngay gần ấy, vì thế mà bàn ghế trong trường được trưng dụng phục vụ hội chợ. Mỗi khi nghe đoàn “bê đê” về phố núi, bọn trẻ chúng tôi háo hức kinh khủng, chẳng hiểu “bê đê” là gì, chỉ biết rằng họ hô lô tô, mà mỗi lần nghe họ hô lại ngần tò te, chăm chú, họ tài đáo để! Mấy ngày Xuân, cứ phải có mặt ở hội chợ vài lần để chơi đủ trò, nhất là lô tô. Giải lô tô ngày đó giá trị cao nhất là 1 chiếc xe đạp. Xe đạp thuở ấy to lắm cơ, thế nên năm nào cũng nhất định mua để dò, và lần nào cũng hẹn năm sau nhất định thắng!

Tết, sớm mùng một, năm nào cũng vậy, thức dậy phải diện diện đồ mới và sau đó là bố mẹ mừng tuổi, khoản này háo hức cũng không kém những trò khác trong dịp Tết, dù tiền mừng tuổi ấy rồi cũng gửi lại bố mẹ vì không biết dùng vào việc gì.

Tết, chẳng hiểu sao nhiều người lớn lại không thích thế! Nghe người lớn nói đến công việc, nói đến tuổi già, thật chẳng hiểu sao!

Wal
22-23.04.2011

Trẻ con phố núi: Đi bơi


Trẻ con thì thật lắm trò, từ những thú vui bổ ích lành mạnh cho đến những món nguy hiểm khó lường. Đi bơi cũng vậy, nếu là ở hồ bơi nhân tạo thì chẳng mấy điều để nói, còn nếu là hồ bơi… thiên nhiên tạo thì ấy là một chuyện khác rồi.

https://i1.wp.com/i155.photobucket.com/albums/s301/nguyenvolam/10487c632daa4a9.jpg
Từ dạo chuyển vào trường cấp I Trần Phú và chuyển nhà lên xóm Cổng Xanh, tôi quen nhiều chiến hữu mới và cũng có thêm nhiều trò mới để nghịch hơn, nhất là khi khám phá ra hồ nước ở thảo cầm viên sau những chuyến phiêu lưu dài kỳ.

Khu vực này vốn dĩ xưa kia là một vùng đất trũng, nước mưa tù đọng lâu ngày tạo thành hồ, diện tích rộng lắm (dĩ nhiên là rộng gấp 3, 4 lần hồ Bán Nguyệt bên quận 7 rồi), cái hồ ấy đủ là một thế giới nho nhỏ đối với bọn trẻ con. Chúng tôi thường đi theo cung đường tắt, băng qua những con dốc và bụi rậm mới đến gần được khu vực hồ, phía bên kia là thảo cầm viên, nối với nhau bằng chiếc cầu gỗ.

Ngày phát hiện ra nó, cứ ngỡ mình là Robinson Crusoe vừa khai phá vùng đất mới! Sau vài hôm mới ngỡ ra nơi này chẳng xa lạ gì so với nhiều kẻ choai choai đồng lứa khác. Bọn chúng thì quá sành nơi này, biết nơi khu vực nào nông, sâu hay an toàn để mà chiếm đóng. Dĩ nhiên bọn tôi cũng chả dại gì mà không… tìm tới những điểm an toàn ấy.

Không ai chỉ dạy, thành ra khoản biết bơi toàn tự mò, tìm mọi cách để cho mình… không chìm, quằn quại đủ kiểu, nào bơi sải, bơi ngửa, nào bơi nhái, bơi chó đều phải tập qua, và kiểu nào cũng từng qua khâu sặc nước. Phải khổ sở đến vài tháng mới “thông” được kiểu đầu tiên, bơi chó. Chả là để có thể di chuyển qua lại hai bên bờ một cách trót lọt phải biết ít nhất 1 kiểu bơi vì có một điểm cực sâu, bơi ếch thì toàn… ngụp lặn, dễ “teo”, bơi sải thì trông chừng kỹ thuật quá khó và văng nước nhiều quá, với lại tôi không ưa lám các kiểu bơi mặt tiếp xúc với nước, do vậy bơi chó để… nổi là phương pháp an toàn và hiệu quả nhất, vừa ít bắn nước, vừa an toàn và bình thản!

https://i1.wp.com/i155.photobucket.com/albums/s301/nguyenvolam/Ho.jpg
Khu vực “đóng chiếm”

Sau một thời gian, “địa phận” của chúng tôi lấn ra tận… cầu để bước qua thảo cầm viên, một số tay có máu… liều thì nhảy bổ xuống nước và bơi ra tít hẳn phía xa, hồi ấy chúng tôi nể những tay ấy lắm. Tự lượng sức mình, cứ lân la khu vực cầu mà nghịch.

Biết mỗi ngón bơi thật là hạn chế, thấy một vài tay có khả năng bơi ngửa, thấy ngón này hay, ít dùng sức mà có thể thả người theo dòng nước, tung tăng ngắm nhìn trời trăng mây gió… nên quyết định gửi gạo tầm sư! Chuỗi thời gian đầu là sặc nước liên hồi, khuôn mặt không lúc nào nó chịu theo ý mình để nổi bồng bềnh trên mặt nước cả. Nhưng ngày ấy đến thì quả là tuyệt vời! Bởi bạn cứ thử nghĩ khi thả mình giữa hồ nước, cảm tưởng giống như đang nằm trên một chiếc phao, tay ve vẫy, chân đung đưa, mặt ngắm nhìn mọi vật một cách thư thái, còn gì tuyệt hơn? Từ vị trí giữa cầu ấy, tôi có thể “chèo lái” mình đi đến tít khu vực “đóng đô” ngày trước một cách dễ dàng. Có lẽ khối kẻ sẽ phải… phát ghen lên khi không biết kiểu bơi này!

Một thời gian, chiếc hồ ấy dần đóng thêm nhiều bùn cặn, thành ra nó cũng không còn là thiên đường nữa. Chúng tôi đành ngậm ngùi chia tay chiếc hồ với bao kỷ niệm, từ những ngày đầu bập bõm học bơi đến khi thành thục, đến những buổi thả mình bơi ngửa dưới cơn mưa, những lần chia phe đánh trận dưới nước… Sau này thi thoảng vẫn đến hồ bơi ở tít gần sông Dakla, nhưng khi ấy không còn là… trẻ con nữa rồi, và dĩ nhiên, nó là chuyện khác.

Wal
19-08-2009

Trẻ con phố núi: Vườn cây quả


Bắt chước serie “Trẻ con phố Hàng” – truyện blog của bạn Bạch Ngọc Hoa, nay ra serie “ăn theo” “Trẻ con phố núi”…

Chẳng qua là kể lể về ngày xưa, khi đứa em “thơm cún” nhắc tới quả mít làm tôi nhớ đến những cây trái trong vườn nhà cũ và những kỷ niệm thời thơ ấu quanh nó, những năm trước khi vào lớp 4. Với lại, đôi khi cũng phải lục lọi ký ức và ghi lại, sợ để lâu nó lại vương vãi rơi rớt bởi tính hay quên.

***

Được cái vườn ngày đó không rộng lắm nhưng trồng đủ loại cây, mà chủ đạo là ổi, dừa, mít, mận, bơ, nhãn, thanh long và gùi (chanh dây, mác mác), loại nào cũng trồng trên 2 cây, mỗi cây là mỗi giống khác chủng nên ngày đó tôi được tận hưởng cũng khá nhiều hương vị của một loại quả.

Mận thì cây ra quả trắng, cây quả hồng, mà tôi thì thích quả loại trắng hơn, ngọt chứ không vương chút vị chua như mận trái đỏ, có điều giống mận trắng này ra hơi ít trái, chắc là nó bị “còi” nên chỉ ra được in ít quả vậy thôi. Mỗi mùa mận đến là lũ trẻ cả xóm tụ tập đeo bám từ gốc cây lên đến gần tít ngọn. Lại nhớ đến một thằng nhóc hàng xóm, nó mong có được một trái mận nên kìm nén cơn đau bụng trông đến tím tái cả mặt, đứng chờ “sung rụng” từ mấy tay đang tíu tít trên cây, “sung” chưa rụng thì đã “có gì”… rơi, mặt nó chuyển từ tím tái sang đỏ, anh em trên cây thấy vậy liền ném một quả như “xua” nó về, bố mẹ đặt tên cúng cơm của nó là “Lì” cũng đúng thật!

***

Khoái khẩu nhất là mít, mỗi mùa mít đến thì khỏi bàn, mũi ai cũng có độ nhạy cao nhất, mít vườn nên không bao giờ phải chặt trái sống rồi ủ chờ chín, mà chỉ một trái chín cây thôi là mùi thơm nức của nó lan vào cả gian nhà, chỉ việc xác định vị trí của nó nằm ở đâu thôi. Hồi ấy vườn nhà tôi có mít thường (hồi đó gọi thế, chứ sau này tôi chẳng thấy và cũng chưa từng được ăn loại mít nào ngon ngọt đến vậy), cả mùi vị và màu sắc đều rất đậm đà, màu sắc mỗi muối vàng sẫm lên như đường mật, muối tròn tròn không lớn và dài như nhiều loại mít khác.

Nhà tôi ngày ấy không có cây mít ướt nào nhưng vẫn thường xuyên được ăn nhờ “hưởng sái” từ cây mít nhà ông địa chủ (không biết địa chủ nơi khác như thế nào, hay không rõ lý do gì, nhà địa chủ này nhà cũng sập xệ và nông thôn lắm, được cái mảnh đất rộng thênh thang mà nhà tôi xưa vốn là một phần trong mảnh đất ấy). Cây mít này nó nằm sát rạt hàng rào nhà tôi, mỗi lần chín thì đến ung trên cây, không thì rụng xuống choẹt loét, mà toàn nhà tôi hứng chịu. Không cam chịu cảnh ấy và không muốn chỉ tận hưởng mỗi mùi hương, mỗi đợt nó vừa chín tới là chúng tôi tìm mọi cách để “rinh” và “hạ cánh” nó một cách an toàn vào trong nhà mà… không để hàng xóm đáng kính phát hiện, mà đấy là cả một quá trình bài bản. Phải đầy đủ đồ nghề và thêm khoản dày dặn kinh nghiệm, từ việc luồn dây thừng cột qua bụng mít kiểu ròng rọc để đưa nó xuống an toàn, đến việc dùng sào cột lưỡi liềm bên trên để cắt cuốn.

***

Nhắc tới “tội lỗi” trên không thể quên cây me, bởi cơ bản nó cũng “ghé” sang đất bên này.

(Đang viết đến đây thì bọn giang hồ vác dao sang gây chuyện… Kết quả: Phía ta: ông anh bị bầm mắt, gót chân bị rách, tôi bị một phát vào mắt và dĩ nhiên cả hai lĩnh thêm mấy chục phát “hội đồng” của chúng, thiệt hại thêm 1 con dao (bọn chúng chôm luôn), 1 cái máy quạt, 1 bếp ga và mấy thanh chắn giường bị gãy. Về phần địch: một thằng sinh sự chính bị 1 phát bầm mắt, một phát ngay miệng chắc lung lay mấy chiếc răng, 3 thằng đánh hội đồng kia không bị dính phát nào. Chỉ đơn giản vì bọn này lái xe máy một cách ồn ào vào khu trọ lúc hơn 22h, ông anh ra nhắc…)

Những chiều rỗi rãnh tôi thường leo lên mái nhà, thả mình dài trên đó mà ngắm những tán me hay bầu trời xanh trong, thật là một nơi đầy thơ mộng, tha hồ tận hưởng cảm giác một mình một cõi. Đến mùa, “tự dưng” trên mái nhà có thêm một cây sào “hành nghề”, thế nên dù chưa cuối mùa tán me phía bên này vẫn luôn “được vặt” một cách tươm tắp, và mái ngói mỗi năm đều có thêm vài lỗ hỏng.

***

Hình như xứ Tây Nguyên bơ hợp đất, riêng cái vườn bé nhỏ nhà tôi cũng phải trên 4 cây rồi, mà mỗi cây mỗi kiểu, cây thì vỏ tím dày dễ bóc tách phần cơm, ăn bùi phải biết, tôi thường lấy nguyên trái lột vỏ ra và gặm dần; cây thì vỏ trắng vỏ hơi sằn sùi lởm chởm “thẹo” như da cóc, loại này thì quả mọng nước nên ăn nhạt thếch, không biết có phải do nó gần giếng hay không; cây thì quả tròn xoe… Kết nhất là cây bơ cao và lớn, quả của nó lộ vẻ mập mạp căng đầy, trái của cây này ít hơn những cây khác nhưng rất chất, cơm thì dày, ăn hơi beo béo, có khi quả chín trên cây bị chim rỉa mất đi một góc. Thi thoảng bắt được quả chín trên cây, thế là ngồi xơi ngon lành. Ngày cây bơ này chết ai cũng tiếc hùi hụi, cưa gốc ra thì mới biết là bị sâu đục thân, rõ tội.

***

Dừa thì tôi chịu thật, ngày đó còn nhỏ làm gì có sức để đu bám cây dừa, nhờ cậy vào bố cả. Bố thì cứ leo thoăn thoắt như không, thoáng chút đã lên đến tận đỉnh. Hồi đó tôi thích được ăn bẹ dừa non, mỗi lần lên trên đầu ngọn thấy bẹ là bố tôi lấy rựa “xử” ngay. Bố tôi cũng hay ươm cây dừa, có khi chỉ để nó lên phôi bên trong quả và nhú mầm là bổ ra ăn, ngon phải biết!

***

Mà ngày đó, chung quanh chỗ tôi nhà nào cũng trồng cây ăn trái, khổ nỗi vườn nào cũng có cây dính sang chứ không riêng gì nhà ông địa chủ. Vườn nhà thì không thiếu gì mít, gùi, thanh long nhưng vẫn thích của nhà… hàng xóm! Quả gùi cũng là một mục tiêu mà anh em nhà tôi tăm tia, sáng sớm dậy “nhiệm vụ” đầu tiên là phải vọt ra vườn xem có quả nào rụng sang vườn nhà hay không, chiều chiều thì trông ngóng xem quả nào sắp chín và chờ rơi, cứ như là một thói quen, mà cảm giác đợi chờ như thế này thật thú vị. Cũng giống như quả thanh long mọc đầy vườn rào, quả hườm đào vẫn chưa vội hái vì nó vốn của nhà mình, nhưng thi thoảng cũng… canh bọn hàng xóm, “giang hồ hiểm ác” mà.

***

Ôi, mà còn nào ổi, nào nhãn… cả một vườn thực vật nho nhỏ và dư sứt lót dạ quanh năm. Giờ mảnh vườn ấy đã được san bằng, mọc lên đó là một chiếc biệt thư to đoành. Những ngày tháng đẹp cũng chỉ còn lại hình ảnh trong trí nhớ khi tôi cùng gia đình chuyển lên xóm “Cổng xanh” để mở ra những ngày tháng mới.

Wal
15-05-2009

Trẻ con phố núi: Thả diều


Lâu rồi mới đi lại con đường này, qua cầu Thủ Thiêm để về đến Quận 2.

Con đường vào xế chiều lộng gió mang lại cảm giác thật dễ chịu và thư thái. Hai bên hiên cầu vẫn vậy, đông người, dù bảng cấm tụ tập có treo. Chợt nhận ra tầng không phía trước rợp những cánh diều, nơi con đường vừa mới xây dựng xong, cứ tưởng như trong một ngày hội nhỏ. Cảm xúc xưa hiện về rõ như mồn một…

***

Ngày ấy tôi học cấp I, cái thuở mà người ta vẫn đùa bảo thời đuổi bướm bắt hoa (hình như con gái cũng như con trai), tôi bắt đầu chinh phục không gian bằng những cánh diều mình tạo. Thời ấy tôi thích được làm và thả diều lắm. Tôi ưa làm diều đuôi thẳng dài và có thêm 2 cánh bên hông tạo cân bằng, trông nó bay lả lướt hơn loại cánh như hình tam giác, đuôi thòng lọng kiểu mắc xích, trông cục mịch nặng nề, mà mỗi khi lên tầng không, no cứ trườn trườn như một thứ bò sát không chân. Vì thế tôi luôn chọn làm loai diều mình ưa thích cố gắng để tạo cho mình đứa “con cưng” ưng ý và hoàn mỹ nhất.

Thời ấy tre thì gần như luôn sẵn, mà không có thì cũng cố lùng ở mọi ngóc ngách để “khui” ra bằng được vị trí nó đang ẩn náu để làm khung sườn cho cánh diều. Tre được vót rất kỹ và cân để tạo độ cân đối cho mình diều, dĩ nhiên phải cần đến độ dẻo để không gãy khi uốn, cũng như không quá mềm để đủ sức chịu đựng trước cơn gió mạnh có thể làm xiêu vẹo thân sườn. Giấy hồi ấy tôi chọn cũng chỉ toàn giấy đôi vở rồi cắt ra, dĩ nhiên là giấy trắng cho nó thêm phần… thẩm mĩ, và dĩ nhiên cả đuôi cũng vậy (đó là những cánh diều được trau chuốt, chứ đôi khi vẫn dùng giấy vở đã qua sử dụng rồi), với vật liệu hồ (đôi khi là cơm nguội), thế là đã hoàn thành thân mình cho cánh diều.

Diều để có thể chống chọi với cơn gió lớn chỉ có thể dùng dây cước, cước thì cũng rất đa chủng loại. Phải cuốc bộ ra tận chợ lớn mới mong tìm được loại mình ưng ý nhất. Chọn cước mỏng quá thì chẳng khác nào đang dùng chỉ, cước trắng thì đẹp, nhưng hơi mỏng manh và dễ đứt hơn loại cước vàng ngà, tôi thường chọn loại này. Dĩ nhiên, với cánh diều cỡ lớn hơn, chẳng hạn với kích cỡ tầm 2 đôi giấy vở ghép lại thì phải dùng loại cước dày hơn nữa, bởi nếu tiết kiệm dùng loại cước không phù hợp, thể nào cũng có kết cục diều “cuốn theo chiều gió” mà bay thôi. Ngày đó tôi cũng tình cờ “bắt” được một con diều to đến ngỡ ngàng bị đứt cước rơi vào địa phận nhà tôi, phải nói là tôi rất hoan hỉ với “chiến lợi phẩm” ấy, và tôi thầm nghĩ : “không thể để cánh diều của mình bị tình trạng tương tự”.

Cũng phải nói thêm một chút về kỹ thuật nối thân diều với dây cước, bởi đó là bí quyết lớn nhất để diều có thể bay cao vượt trội. Cước buột phải chặt để không bị tuột lên tít đỉnh đầu điều, và canh nó tầm bằng 1/3 so với đỉnh, khoảng nối dây giữa diều và cước phải được nới lỏng thừa ra vừa đủ để cánh diều có thể tự do chao lượn trên không trung.

***

Những ngày “chinh chiến”, đi cùng tôi là tầm 4 đến 5 người, đa phần ai cũng mang theo “con cưng” của mình. Địa điểm luôn là những nơi vắng vẻ, no gió, thật may phi trường cách chỗ tôi không xa, và đó là địa điểm lý tưởng nhất để thả diều. Giữa cái nắng gắt chói chang của buổi chiều, cả hội vẫn rất hứng khởi, đầu trần, có kẻ chân đất mà đi. Và mỗi lần đi phải tầm trời chạng vạng mới ló dó về. Khi đi dĩ nhiên chúng tôi luôn “thủ” nào đuôi, nào hồ dán để phòng trừ đang tung hoành trên không thì bị… đứt cánh (dù “chinh chiến” không chạm nhau), thật là rủi ro không may. Thi thoảng cũng có chuyện chạm dây nhau và gây rối, tuy là ít gặp nhưng những lần như vậy thật phiền hà và khó xử lý giữa cái đống dây nhợ không biết cái nào của ta, và kết cục thường là cắt bỏ đoạn rối ấy đi – “chinh chiến” không mong đợi!

Sau này khi chuyển nhà lên gần Cổng xanh, tôi vẫn tiếp tục thú vui ấy bởi nơi này vốn vẫn còn thưa thớt dân cư và có những khoảng không tuyệt vời để thả diều thoải mái. Có những chiều tôi ngồi đến khi màn đêm buông xuống, vẫn trên những ống nước chất cao (y như trong truyện Đôrêmon ấy) cho đến lúc sao lên, vừa thả diều, vừa ngắm sao, thật tuyệt! Có điều lúc này cánh diều bay đi đâu chỉ còn là cảm giác ở bàn tay.

Thời ấy tôi tự hào diều mình bởi nó luôn chinh phục được những khoảng không mà nhiều người mong ước.

***

Giờ đây những cánh diều tự làm ấy hình như không còn mấy nữa, có chăng chỉ còn ở những miền quê hẻo lánh nào đó mà thôi. Đô thị hóa, rồi nơi tôi giờ cũng đông dân cư hơn bao giờ hết, rồi những cánh diều được làm từ các nghệ nhân hay từ các khuôn mẫu sẵn chứ không phải là từ chính tay của nghệ nhân “nhí”, thật tiếc!

Tuổi thơ trôi qua, thi thoảng nhìn lại… thật thú vị biết bao!

Wal
24-02-2009

Trẻ con phố núi: Mùa trung thu


Nhớ trung thu xưa nơi quê nhà, ở đất Kon Tum, nơi mà trước đây nhiều người nghe tới còn ngỡ ngàng xa lạ, đôi khi họ lại hỏi mấy câu rất “ngây” tựa như: “Đó là đâu vậy?”, “Ở đó đi học bằng gì?”, “Bạn mặc đồ như thế nào?”… Ngờ nghệt bởi vùng đất này vốn chưa ghi đậm nét gì ở họ, có chăng những lần truyền hình nói về xứ này, thường là những bài phóng sự về vùng đồng bào, hay những dịp lễ hội Tây Nguyên đầy bản sắc… Những nơi khác Trung Thu ra sao? Điều đó tôi không rõ lắm, chỉ được ăn Tết này ở quê nhà và Đà Lạt, thấy rõ những nét đặc trưng riêng.

Trước đây, thời tôi còn cầm đuốc chạy theo những đầu kỳ lân để đi đến các gia đình, không khí khi đó rạo rực khác giờ. Một vùng quê còn nghèo, ánh điện còn chưa đủ để thắp sáng cả phố phường, đến cả từng nhà còn dùng đèn dầu thắp sáng, lúc đó ánh đuốc, đèn lồng là một nét đặc sắc trong dịp Tết Trung Thu. Từng ngọn đuốc cháy rực cùng ánh đèn lồng le lói làm màn đêm trở nên lung linh khó tả. Trước tết phải cả tuần, chúng tôi còn hối thúc bố ra chợ mua cho bằng được những ống lồ ô chặt từ trên rừng về để đổ dầu vào, nhà sẵn vải may nhét vào để làm tim, lồ ô phải hơi tươi ngả màu một tí đểkhông bị nhiệt độ làm rạn nứt ống, ống càng nhỏ, càng dài thì dùng càng lâu, tiết kiệm được dầu đốt, thế nên có những đợt người đồng bào thồ gùi bán lồ ô rong, chúng tôi lại chăm chút chọn cho mình một ống cho vừa ý nhất, tất nhiên tôi chuộng ống dài và hơi nhỏ. Ngày đó, bố tôi còn chỉ cho cách làm đèn ông sao, nghĩ hồi đó bố thật tuyệt vời, làm chiếc nào cũng đẹp cả! Có một chiếc để “lên mặt” với bạn bè cùng trang lứa, rất hãnh diện! Bố kiếm đâu ra được những ống lồ ô, đôi khi là tre về nhà chẻ, vót cho thon các cạnh để nó không đủ sắc để làm hại ai, sau đó là giai đoạn ghép từng đoạn lại cho cân để tạo ông sao, và rồi dần cũng hoàn thiện được khung sườn. Bố lại lấy giấy kính bọc quanh, giai đoạn khá kỳ công, ngay sau khi hoàn thành, chúng tôi vẫn không ưng ý với sản phẩm cho lắm, vì nó không căng phồng như những chiếc lồng đèn khác, nhưng sau một buổi sáng phơi nắng ngoài trời, nó làm chúng tôi hoàn toàn đổi ý! Lớn hơn chút nữa, chúng tôi tự làm lồng đèn, không đẹp bằng bố làm nhưng rất hài lòng vì đó là sản phẩm của chính mình. Ghiền nhất vẫn là bánh Trung Thu, hồi đó, năm nào cũng được ăn, gia đình 5 người cùng xum vầy trong một buổi tối, bánh đem ra và chia phần, chúng tôi luôn giành phần nhiều…

Ánh điện rồi cũng đến được mọi nhà, đường phố rồi cũng thắp sáng, lồng đèn ông sao rồi cũng được bày bán đầy ngoài tiệm, mặt hàng phong phú hơn rất nhiều, lồng đèn dùng pin, có nhạc bày bán khắp nơi… Thứ ánh sáng của ngày xưa rồi cũng phai nhạt dần…

Rồi tôi cũng vào đại học, xứ sở này hưởng Trung Thu không giống như nơi tôi sinh sống. Trọ tại khu Đồi Trà gần trường Đại học, không khí khu này rầm rộ không kém gì so với những nơi khác, nhà trọ nào cũng gấp rút làm một chiếc lồng đèn thật to, thật riêng để trưng diện trước mọi nhà! Chúng tôi cóp của từng người gây quỹ để làm lồng đèn cho ngày Tết. Đến mãi chiều 14 âm mới hoàn thành 2 tác phẩm, một quả địa cầu thật lớn (chúng tôi nghĩ vậy), và một chiếc ông sao truyền thống treo lủng lẳng trên tầng lầu, tiếc là ở dưới nhìn không ra đó là… quả địa cầu, dẫu là người nhà! Tối lại tụ họp trên sân thượng hát ca, mở tiệc tùng đầy khí thế. Năm nhất của tôi kết thúc như vậy. Sang năm sau tôi mới bắt đầu tham gia rước lồng đèn với lớp, với Khoa, và năm sau nữa là với CLB SVTN… Đó là những lần diễu hành ra ngoài hồ Xuân Hương đầy khí thế! Con đường vang những khẩu hiệu của cả một đoàn người, người qua đường nhìn rồi trầm trồ, khách nước ngoài thì tranh thủ máy quay phim hay chụp những bức ảnh tư liệu quý giá… Kết thúc quảng đường thường là bãi đất trống ngoài bờ hồ, đó là nơi giao lưu giữa các đội rước đèn, có đủ cả, nào là của CLBSVTN, của các khoa, của các trường THPT, nhà thờ, của cả DNTN… Tiết mục sau cùng thường là thả lồng đèn xuống hồ, để hôm sau những nhân viên vệ sinh lại mệt nhoài vì vớt “xác”.

Năm nay, có lẽ là năm cuối cùng được ăn cái Tết nơi này, dẫu không phải là gốc gác nơi đây, song tôi vẫn có một cảm giác rất gần gũi như là một phần sống. Dự định ban đầu là sẽ đi cà phê sau khi đứng ngoài bùng bình Hòa Bình. Đây là nơi dòng người đổ về nhiều nhất, các đội rước đèn lồng hầu hết đều qua đây. Khu phố chưa bao giờ đông kịt như hôm nay, đường phố kẹt xe đến độ bạn tôi đến đón tôi cách hơn 50m mà mãi hơn 10 phút không thấy đến, buộc tôi phải đi tìm. Năm trước ai có cơ hội nhìn thấy đều ấn tượng một con chó khổng lồ, năm nay lại được dịp chiêm ngưỡng con heo to không kém, những lúc nó ngã người chào ai cũng ồ vang sợ sệt, cứ tưởng chừng như nó sắp đổ vào mình, chính nó đã góp phần vào việc ùn tắc giao thông, bởi đến đâu đoàn người đông đến ấy…

Năm sau, rồi ta lại về đất Kon Tum, hưởng cái Tết trầm… Đơn giản vì tôi không còn như trước nữa…

Wal
24/09/07

Trẻ con phố núi: Mùa đi…


Hành trình khám phá của trẻ thơ, tựa như những chuyến“phượt” đầy tính phiêu lưu của người lớn!

***

Một ngày cuối tuần, lũ nhóc trong xóm đột nhiên nảy ra ý định đi thám hiểm! Thế là cả bọn lên ngay một lộ trình dài băng qua những con đường đất đỏ mà tôi đoán chắc là rất ít người đặt chân.

Cả bọn, đầu đội trời, chân đạp… dép lên đường!

Bên cạnh những khu nhà của quân đôi gần nhà là một cánh rừng nho nhỏ với đầy những cây bụi cỏ, cây rừng và tràm. Mùa về, của rừng, khu này cỏ cây xanh mướt, quả rừng hái ăn không xuể, dâu đất, cứt chuột… mọc ngợp khắp rừng. Đây cũng là nơi quân đội tập luyện, nên vào những mùa đi, của bộ đội, để lại đầy những lô cốt và hào sâu, xẻ ngang cắt dọc cả khu rừng.

Sớm hôm ấy, là mùa đi, của rừng, để lại những gốc cây bụi cỏ trơ khô, những mảnh đất cằn, và những cây rừng hết trái, cũng là mùa đi, của bộ đội. Khu rừng nhỏ này chỉ có thẻ cuốc bộ qua, bởi quanh đây dày đặc những chiến hào tập trận của bộ đội. Lũ nhóc đuọc dịp trung dụng những chiến hào để chơi trò đuổi bắt suốt cả buổi sớm, mãi đến chán mới tiếp tục cuộc hành trình.

Băng qua cánh rừng nhỏ là một chiếc hồ rộng lớn như nằm lọt thỏm giữa thung lũng, bọc ven hồ là những luống rau trồng xanh mơn mởn, nào rau cải, cà rốt, củ cải. Phía xa xa bên kia bờ hồ là con đường chạy chắn ngang, để tạo thành chiếc hồ có hình như quả bầu bị cắt đọt. Hai bên “thân bầu”, một vài ngôi nhà lụp xụp nằm ở trên các triền đồi cao có thể nhìn bao quát toàn cảnh, có lẽ để những đứa trẻ như chúng tôi phải bận tâm lo lắng nếu có ý đồ u ám nào đó bên vườn rau, hay là chiếc hồ rộng nuôi đầy cá bên trong.

Bọn trẻ hôm nay ngoan lắm, không đứa nào bén mảng đến vùng “cấm địa” ấy. Men theo một lối đi khá nhỏ, thoáng chốc, lũ trẻ đã đặt chân trên con đường đất đỏ – vốn đã cắt ngọt chiếc hồ kia.

Đến đây thì địa bàn đã nằm ngoài tầm kiểm soát bọn trẻ, hành trình tiếp đến mới thực sự là khám phá.

Không biết con đường đất rốt cuộc dẫn đến đâu, bọn trẻ cứ đi theo một lộ trình gần như thẳng để khi về còn tìm ra lối. Hình dung thì vậy, chứ lộ trình sắp tới rẽ trái, phải không ít lần. Nhà cửa khu bên này còn thưa thớt và khá tiêu điều. Đất cằn, lại vào mùa khô, cái thứ nóng khô khốc khó thở nương mình vào những cơn gió thổi táp vào người làm bọn trẻ không ít đứa nhăn mặt. Nóng, đầu lại ‘đội trời”!

Bọn trẻ bắt đầu cảm thấy sai lầm khi chọn mùa này để đi, cảm giác đó cũng chỉ mới dấy lên thôi, hành trình vẫn tiếp tục.

Vượt qua một con dốc vốn đầy những “vết thẹo” hình thành do những cơn mưa, bọn trẻ lờ mờ hiểu câu “nước chảy đá mòn”. Dưới con dốc sâu hút ấy là những cánh đồng trải rộng, mùa gặt đã qua, chỉ còn trơ lại xác xơ, lởm chởm những thân lúa, bên cạnh những mấp mô do vết chân hằn lại.

Bọn trẻ tiếc hùi hụi, bởi mùa đi, không chỉ của những cây rừng…

…Bỏ lại sau lưng cánh đồng khô khốc, chúng tiếp bước xa hơn, băng qua con đường mòn, những khu đất trống… mãi đến khi chạm một ngã ba, chúng mới bắt đầu quyết định hướng đi. “Rẻ trái”, một trong số những đứa lớn quyết định…

Con đường bên trái rợp bóng cây hơn, đường nhỏ, hẹp, lối đi lởm chởm đầy sỏi đá vốn đã bị bào mòn tạo một khối hình thù đen bóng nhẵn, có lẽ, xưa, nơi này nhựa đường từng được rải qua. Phía trước là một cây cầu sắt nhỏ, ngắn, nét cũ in hằn lên từ nước sơn đến thớ gỗ lót bên dưới, chúng như đang chờ đợi ngày xây mới, mà có lẽ cũng không cần xây, nước ở dưới con kênh bên dưới như ngừng chảy tự thuở nào. Bọn trẻ hí hửng đu bám đủ kiểu quanh cầu, cứ như các cụ thầy đeo kính mát sờ voi.

Lũ trẻ tiếp tục men theo đường ấy đi sâu vào trong hơn. Lúc này, hiện ra hai bên là những gian nhà của người đồng bào, thưa thớt và lụp xụp, đi thêm nữa thấy lối rẽ xuống dòng sông, một phát hiện tuyệt vời của bọn trẻ!

Sông Dakbla ở góc này mang một nét thanh bình, yên ả, lũ nhóc không thể tưởng tượng được là nó khác xa với góc ở gần cầu đến vậy, muốn được ngồi ngắm, muốn được lăn dài bên bãi cát trắng, hay nghịch nước cả ngày bên sông… Không phải đợi chờ, những mong muốn chợt nổi lên của bọn trẻ nhanh chóng thực hiện ngay.

Trước mặt lũ trẻ lã dòng nước êm đềm chảy, phía bên kia sông là một gò đất, ven rìa cát trắng phau, sâu hơn trong gò là những bãi mía, ngô đang gần cuối mùa thu hoạch. Lần nữa, bọn trẻ lại được chứng thực: mùa đi không chỉ của cây rừng… Mùa đi, nước con sông cũng lặng lẽ rút dần, để lại một mực nước nông đủ an tâm cho lũ trẻ chơi đùa. Thấy một người đồng bào, đầu đội thúng bước qua sông, bọn trẻ thì thầm bảo nhau: “Hay là ta qua đó?”

… Không mấy khó khăn, khoảng 10 phút sau, lũ trẻ đã có mặt ở trên gò, lai tiếp tụ một loạt trò chơi, và được thưởng thức cả những khúc mía ngọt lịm đường từ những người đồng bào tốt bụng mang cho.

Thoáng, trời cũng đã đứng nắng, có lẽ duy nhất mỗi cái đói đủ sức gọi bọn trẻ ra về. “Chuyến đi này thật không tiếc”, một trong số bọn trẻ thầm nhủ.

Mùa đi, để rồi mùa khác đến. Bọn trẻ, không chọn, mà chỉ hẹn, đợi mùa đi, lại về, để chúng thêm lần ghé lại nơi đây.

Wal
24.4-7.5.2011