Đăng bởi: Nguyễn Võ Lâm | 12.12.2007

Frédéric Chopin


I. Frédéric Chopin

“Nhà thơ dương cầm”

Tôi không nói nhiều về con người này, chỉ xin điểm sơ lược lại vài nét.

Frédéric Chopin sinh ra ở Zelazowa Wola tại Ba Lan vào ngày 22/2/1818 và mất ngày 17/10/1849. Tài năng của ông sớm được bộc lộ, 4 tuổi bắt đầu làm quen với piano, 7 tuổi ông đã soạn Vũ khúc Ba Lan (Polonaise in G minor), 8 tuổi bước lên sân khấu biểu diễn, chưa đầy 20 tuổi đã trở thành nhà dương cầm và nhà soạn nhạc được công nhân tại Warsaw. Khi Ba Lan bị mất nước ông phải chuyển đến Pháp sống và gắn bó phần đời còn lại tại đây.

Trong sáng tác của ông chủ yếu giới hạn trong phạm vi đàn Piano. Ông đã sáng tác 4 bản ballades, 1 barcarolle, 1 berceuse, 1 bolero, 2 bourrées, 1 cantabile, 1 contredanse, 3 écossaises, 27 études, 3 fantaisies, 1 fugue, 57 mazurkas, 21 nocturnes, 18 polonaises, 27 préludes, 5 rondos, 4 scherzos, 4 sonatas, 20 waltzes, 2 piano concertos, 20 bài hát tiếng Ba Lan cho giọng hát và piano và một vài tác phẩm khác. Trong đó nhiều tác phẩm nổi tiếng được biết đến như Ballade số 2, 3 và số 4, bản Nocture Op.48, Op.37, ba bản Polonaise Op.40, 44, 53 và 61, bản Scherzo, Op.54, bản Fantasia in F minor, Op.49 bản Berceuse, Op.57, bản Mazurka Op.33 và Op.41, và hơn hết là tuyển chọn của 24 Préludes, Op.28, Etudes Op.10.

Trong phần này tạm thời tôi giới thiệu 3 thể loại trong sáng tác của ông. Tôi cũng nêu quan điểm rằng không bàn luận thêm về cách nghe hay cảm nhận, cái đó tùy thuộc vào mỗi người. Những dòng viết dưới đây hầu hết tập hợp lại từ nhiều nguồn, chủ yếu để nắm bắt thông tin thêm chứ không hề phân tích sâu về tác phẩm, vì đơn giản đó không phải là chuyên môn.

1. ETUDE

*Etude: là một đoạn khí nhạc, thường được dùng cho nhạc cụ dây có bàn phím, chủ yếu để khai thác kỹ thuật biểu diễn nên nó có một độ khó nhất định. Một thời nó được coi như một bài tập, đến thời kỳ của Chopin, những etude của ông mang thêm chất hòa âm nhiều hơn khiến cho etude vốn là những bài học trở thành những tác phẩm mang giá trị nghệ thuật. Tuy nhiên, về vấn đề kỹ thuật thì Liszt vẫn là người đáng được ca tụng nhất, ông là người phát triển thể loại này lên tầm cao hơn, chuyển soạn những etude ở mức bình thường thành khó thật sự. Dẫu sao thì đây là một thể loại rất khó… “nhai” cho người chơi cũng như người nghe (nhất là người “ngoại đạo”)!

(Có thể đọc thêm thông tin về thể loại này tại đây)

* Chopin đã hoàn thành được 27 tác phẩm etude, 3 bản etude sáng tác sau đó không được ông đánh số, có lẽ là từ năm 1839, nó là những tác phẩm được biết đến sau khi tác giả mất. Mỗi etude của âm đều tượng trưng cho mỗi cách thức hòa âm, những tác phẩm nổi tiếng trong số đó là:

Etude op.10 No.1 in C: Được viết vào năm 1829 và được công chúng Pháp, Đức, Anh biết đến năm 1833. Nó là khuôn mẫu dùng để hát hợp xướng trong nhà thờ dòng thánh Saint, bởi vậy nó còn có tên gọi là "Becomes a fugitive Saint To chant Tune" (Cái này dịch từ tiếng Trung Quốc sang nên không chắc chắn đúng về cấu trúc ngữ pháp).

Etude op.10 No.3 in E: Được mọi người đặt tên là “Leaves”. Giai điệu của nó vô cùng thanh tú, đượm buồn… Một lần Chopin đánh cho người bạn mình nghe xong và rồi hét to lên rằng: “
ấy là quê hương của tôi!”. Đây cũng là bản etude tôi thích nhất trong số 27 etude này.

Etude op.10 No.5 in G flat: được mọi người gọi là "Black Key", lý do là nghệ sỹ đánh những nốt chủ yếu ở bên tay phải, bên tay trái chỉ hỗ trợ những hợp âm (:(cái này quá chuyên sâu nên không rõ, không đào sâu thêm!). Đây cũng là tác phẩm được người phụ nữ Sharon thường chơi để biểu đạt cảm xúc của mình.

Etude op.10 No.12 in C minor: mọi người vẫn hay gọi là "Revolution" (Cuộc cách mạng). Năm 1831 Chopin rời Warsaw để đến Paris, lúc này ông được biết rằng quân đội Nga đã chiếm Ba Lan và khống chế chính phủ quốc gia từ 5 – 9 – 1831. Do vậy trong tác phẩm này, mọi căm phẫn đều được ông dồn nén vào trong.

Etude op.25 No.1 in A flat: được biết đến với cái tên khác là "Shepherd's Bamboo flute" (Tiếng sáo của Shepherd). Câu chuyện này được kể rằng, cậu bé Shepherd đang đi bỗng một cơn bão kéo đến, cậu tìm đến hang động để trú ẩn. Cơn bão tiếp tục gây gió, mưa như muốn quật ngã cậu bé. Cậu bình tĩnh lấy ống sáo tre thổi để lấn át đi những cảnh tượng đang diễn ra trước mặt mình (cảnh này trích từ câu chuyện của nhà văn Shuman).

Etude op.25 No.9 in G flat: Được biết đến với cái tên là “Butterfly” (Con bướm), có giai điệu nhanh.

Etude op.25 No.11 in A minor: Là một bản dân ca, được mọi người gọi là “Winter Wind” (Cơn gió mùa đông).

Etude op.25 No.12 in C minor: Là một bản dân ca, có tên là "Sea Etude", “sau cơn bão, âm thanh lớn của những đợt sóng đã vỗ ngược vào bờ biển”, nhịp điệu cũng không quá nhanh.

2. PRELUDE

*Prelude: Ở những thế kỷ trước , Preludes, khúc nhạc dạo là một thể loại âm nhạc hình thức tự do, mang tính chất ngẫu hứng thường đi kèm sau là 1 phức điệu hay làm dạo đầu cho 1 tổ khúc múa . Chopin chỉ giữ lại ý tưởng : hình thức không cố định để xây dựng những tác phẩm độc lập diễn tả nọi tâm thầm kín , những xúc cảm , trạng thái tâm hồn , khát vọng. Theo F.Liszt thì những Preludes chủa Chopin "thực sự đáng khâm phục vì sự đa dạng chứa chất bao trí tuệ , lao động. Chúng mang tầm vóc lớn lao, đặc trưng cho những tác phẩm thiên tài ."

(Có thể tham khảo thêm thông tin tại đây)

No 1: "đợi chờ người yêu", nét nhạc xao xuyến chính là cảm giác khi yêu và được yêu.
No 2: "Biển xa hoang vắng "Nhìn cảnh biển mà thương nhớ Tổ Quốc,giai điệu suy tư , trên nền hoà âm đầy lo âu.
No 3: "Tiếng hát từ những dòng suối "nhịp điệu nhanh vui , trong sáng.
No 4: "Bên nấm mồ"nét nhạc đau buồn , với nền hoà âm tan dần theo bán cung…Nơi đây, nơi kết thúc của tất cả .
No 5: "Trên mỗi cành cây tràn ngập tiếng ca".
No 6: "Mưa rơi": Giai điệu bè trầm tựa như lời than vãn . Nốt nhạc nhắc lại chậm rãi bên tay phải càng làm tăng thêm vẻ u buồn .
No 7: "Kỷ niệm ngọt ngào bập bềnh trong tâm trí như hương thơm ngát ".
No 8: "Ngoài kia tuyết rơi, gió thổi, bão tố gầm rú , nhưng trong trái tim đau đớn của tôi giông bão còn khủng khiếp hơn…"
No 9: "Largo"Bản nhạc sử dụng phần trầm của piano giai điệu bi thương.
No 10: "Điều bí mật"
No 11: "Tâm hồn tôi nơi chứa đầy những điều ngọt ngào "
No 12: "Vó ngựa trong đêm thâu "Nhịp độ dồn dập nhanh, vô cùng lo âu.
No 13: "Trên đất người nhớ đến người yêu phương xa". Trữ tình như 1 bản dạ khúc .
No 14: "Biển trong giông bão "Những nét chạy đồng âm bi thương.
No 15: "Những giọt mưa"mang một nỗi buồn khôn xiết, đã đem lại vẻ say mê hứng thú cho thính giác nhưng lại làm trái tim tôi đau đớn như có hàng ngàn mũi dao.
No 16: " Cuộc chạy đua bên vực thẳm "nhịp độ nhanh bi tráng .
No 17: "Em đã nói với tôi: Em yêu tôi" và điều đó thật tuyệt vời ,bài ca không lời tuyệt đẹp.
No 18: "Những lời nguyền "Tính chất mãnh liệt của 1 Chopin đầy phẫn nộ .
No 19: "Những đôi cánh , tôi ước có thêm đôi cánh để có thể bay theo người người mà tôi yêu"
No 20: "Tang lễ "trang ngiêm sâu lắng
No 21: "Trở về nơi quê nhà "Du dương như khúc hát ban đêm".
No 22: "Phản kháng"1 Chopin mãnh liệt.
No 23: "Dòng suối tuổi thơ" Dịu dàng, thì thầm.
No 24: "Cách mạng" Đây là cách mạng trong tâm tưởng , chất nhạc say mê đấy kịch tính . Ba nốt rê cuối cùng như vang lên ở tận cùng của sâu thẳm.

(Nguồn: Blog Ha Linh Cello)

3. BALLADE

Ballad là một bài ca có cấu trúc tự nhiên đơn giản, thường ở hình thức kể chuyện hay diễn tả. Một ballad thường có một vài đoạn có cấu trúc tương tự và có thể có một đoạn điệp hoặc không. Nói cách khác, ballad là một câu chuyện, thường là một bài tường thuật hoặc bài thơ, được ngâm hoặc hát lên. Bất cứ hình thức chuyện nào cũng có thể được kể như là một ballad, chẳng hạn như những miêu tả mang tính lịch sử hay chuyện thần tiên theo hình thức đoạn. Nó thường rút gọn lại, luân phiên giữa các dòng theo nhịp 3 và 4 (nhịp ballad) và các vần lặp lại đơn giản, thường kèm theo một đoạn điệp. Nếu ballad dựa trên đề tài chính trị hay tôn giáo thì có thể là một bài tụng ca (hymn).


Trong âm nhạc cổ điển, thuật ngữ ballade cũng được áp dụng cho một tác phẩm khí nhạc (thường là cho piano) theo phong cách kể chuyện. Frédéric Chopin đã sử dụng thuật ngữ này đầu tiên trong Ballade giọng Son thứ op.23, xuất bản năm 1836 nhưng bắt đầu sáng tác từ năm 1831). Ông đã sáng tác bốn ballade mà các đặc trưng chung của chúng là nhịp phức (6/4 hoặc 6/8) và một cấu trúc dựa trên các biến thể cùng chủ đề mà các niêm luật hình thức âm nhạc không chi phối nhiều như ý định mang tính chương trình hay văn học. Với đầy vẻ đẹp giai điệu, sự phong phú hòa âm và những cao trào mạnh mẽ, chúng nằm trong số những tuyệt tác của Chopin. Người ta cho rằng chúng được lấy cảm hứng từ những bài thơ ballad của nhà thơ đồng hương với ông là Adam Mickiewicz, đặc biệt là các bài SwiteźSwitezianka, có liên quan đến một hồ nước gần Nowogródek và một nữ thủy thần của hồ ; nhưng chính Chopin không đưa ra bất cứ bằng chứng nào về niềm tin đó và hầu như chắc chắn ông không chủ tâm vào bài thơ ballad hay câu chuyện cụ thể nào.

(Trích từ bài của tổng hợp của Triomphe)

(Nguồn: nhaccodien.info)

II. Alfred Denis Cortot (1877 – 1962)

1. Đôi điều về Alfred Denis Cortot

Alfred Cortot là một nghệ sĩ dương cầm, đồng thời là người chỉ huy dàn nhạc, ông sinh năm 1977 tại Lyon – Pháp. Cha của ông là người gốc Pháp, mẹ là người Thụy Sĩ – là một nghệ sĩ dương cầm tài năng hiếm hấy. Thời niên khiếu, ông được học piano và tỏ ra là một người khá thông minh và nắm bắt. Khi 9 tuổi, ông đến Paris, tuy nhiên trong cuộc thi tuyển ông đã không được đậu vào trường đào tạo về âm nhạc tại Paris. Một năm sau đó ông mới chính thức được vào trường và thu hút ngay được sự chú ý của mọi người về tài năng của mình. Năm 1896, ông nhận được giải thưởng “sinh viên xuất sắc nhất”. Buổi trình diễn đầu tiên của ông tại nhà hát Colonne và
o năm 1897, trong buổi biểu diễn này, ông đã trình bày tác phẩm Piano concerto No.3 của Beethoven. Giữa năm 1898 và 1901, ông dạy trong một đội đồng ca và sau đó làm chức vụ phụ trong chỉ huy dàn nhạc tại Bayreuth Fesstspielhaus, và năm 1092 ông chỉ huy dàn nhạc công diễn tác phẩm Götterdämmerung của Wagner. Thời gian này, ông đã tổ chức được những buổi hòa nhạc biểu diễn những tác phẩm của Wagner (Parsifal), Beethoven (Missa solemnis), German Requiem của Brahms và những tác phẩm mới của những nhà soạn nhạc Pháp thời bấy giờ.

Vào năm 1905, Cortot cùng với Jacques Thibaud và Pablo Casals tạo thành một bộ ba, đó cũng là bộ ba dương cầm gây ảnh hưởng nhất trong thời đại đó cũng như sau này. Từ năm 1907 đến năm 1923, Cortot đã dạy tại trường đào tạo về âm nhạc tại Paris, trong đó ông đã dạy những học trò sau này rất nổi danh như: Clara Haskil, Dinu Lipatti, Vlado Perlemuter, và cả Marguerite Monnot.

Có thể nói rằng ông là người thể hiện tốt nhất những tác phẩm của Chopin và Schumann. Ông cũng đã xuất bản những tập sách để hướng dẫn rất tỉ mỉ những kỹ thuật để chơi tốt tác phẩm của cả hai nhà soạn nhạc này. Tuy nhiên, Cortot lại rất nổi tiếng về đánh sai những tác phẩm mà ông trình bày, do vậy thỉnh thoảng ông ghi vào những dòng ghi chú bên trái của tác phẩm. Ông là người có khả năng thể hiện rất xuất sắc chất thơ trong những tác phẩm của Chopin mà người đời sau khó ai có khả năng ấy.

Trong những năm 1920 – 1930, ông đã ghi âm những bản thu âm của mình tại các hãng như Aeolian/ Duo Art company, tuy nhiên chất lượng thu âm thời bấy giờ khiến ông không hài lòng. Trong một lần, ông đã thu âm lại Khúc hoang tưởng của Liszt, ông đã thực hiện giống với bản ghi âm cũ tới mức của một vài nhà phê bình không thể phân biệt được 2 bản thu âm. Trong những năm sau đó, Cortot đã ghi âm với những bản chất lượng hơn đến năm 1957, 5 năm sau thì ông mất. Trong thời gian này ông cũng mắc lỗi thường xuyên hơn, nhưng ông vẫn nhớ được những nhịp điệu và cách thể hiện phóng túng, lãng mạn.

2. Bản ghi âm của Alfred Cortot về Chopin (Ghi âm năm 1934)

Alfred Cortot – 24 Etudes & 4 Ballads

DOWNLOAD: http://www.mediafire.com/?4dlmcjnhyjn

Alfred Cortot – 24 Preludes

DOWNLOAD: http://www.mediafire.com/?97vnmnznnm3

Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket

Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket

Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket


Danh mục